6.3.21

Giuđa Có Được Lên Thiên Đàng Không?


 

Giuđa Có Được Lên Thiên Đàng Không?

Gần đây có một bạn trẻ hỏi tôi, “liệu ông Giuđa có được lên thiên đàng không, vì ông đã phạm tội tự tử? Nhưng nếu ông phải xuống hỏa ngục thì tội nghiệp cho ông quá, vì ông góp phần vào công cuộc cứu độ của Thiên Chúa.”

Trước hết, tôi cảm ơn bạn trẻ này đã tin tưởng và đặt cho tôi câu hỏi rất thú vị. Thực ra, đây là một vấn đề được bàn luận rất nhiều trong lĩnh vực tín lý và thần học của Giáo Hội Công Giáo nói riêng và các Giáo Hội Kitô Giáo nói chung. Dĩ nhiên đã có nhiều ý kiến khác nhau trong quá trình thảo luận về đề tài này. Vì thế, tôi rất cẩn trọng tìm hiểu và trong khả năng có thể tôi sẽ đưa ra cách trả lời ngắn gọn nhất và hợp lý nhất, hy vọng những thông tin sau đây sẽ giúp bạn và mọi người hiểu được và đón nhận cách dễ dàng hơn. Tôi sẽ sắp xếp thành một số câu hỏi cơ bản và trả lời xứng hợp như sau:

1.     Ông Giuđa là ai, ông có những phẩm giá và bổn phận nào?

Theo hiểu biết thông thường, ông Giuđa là một người được Chúa Giêsu chọn để trở thành môn đệ của Ngài. Sau khi được Chúa gọi, ông đã từ bỏ tất cả mà theo Ngài, gia nhập vào nhóm các tông đồ luôn sát cánh cùng Chúa trong đời sống công khai rao giảng của Ngài. Như vậy, trong suốt hơn 3 năm giảng dạy của Chúa, ông đã cùng Ngài và 11 anh em khác đi từ mọi miền của đất nước Israel để thực thi sứ mệnh rao giảng Tin Mừng. Ông đã được chứng kiến nhiều phép lạ Chúa làm, như cứu chữa người đau bệnh, làm cho người chết sống lại, bênh vực cho người nghèo, trừ quỷ và nhiều việc lành phúc đức khác. Hơn nữa, ngoài vấn đề truyền bá Tin Mừng cho muôn dân như các môn đệ khác, ông Giuđa cũng được Chúa Giê su và các môn đệ khác tín nhiệm, chọn làm người thủ quỹ trong nhóm của họ.

Dựa vào các thông tin trên, chúng ta có nhận định rằng ông là người tài giỏi và lanh lợi nên mới được giao cho trọng trách này. Tuy nhiên các môn đệ khác chỉ nhìn thấy mặt tốt của Giuđa, còn nhiều điều xấu nơi ông thì họ không để ý tới (có chăng Chúa biết rõ tính cách của ông nên nhắc nhở ông mấy lần), cho tới khi ông Giuđa phản bội Chúa họ mới vỡ lẽ nhìn ra con người thật của ông. Nói cách khác, trước khi phản bội Chúa Giêsu, ông Giuđa được coi như một hình mẫu con người hết sức hoàn hảo, thậm chí là giỏi giang hơn các môn đệ khác, nếu không các ông đã không chọn ông Giuđa giữ tiền và lo lắng đời sống cho họ.

2.     Ông Giuđa có sống đúng với chức vụ của mình không?

Không, ông không sống đúng với tư cách, địa vị và bổn phận của ông, mà phạm nhiều tội rất nghiêm trọng. Theo nghiên cứu của linh mục Giuse Đinh Quang Thịnh, Giuđa đã phạm những thứ tội như sau:

-        Tội bán Thầy: Ông bán Chúa với giá rất rẻ, chỉ bằng giá của một tên nô lệ $30 (x. Mt 26, 15). Đây là tội lớn nhất của ông Giuđa đối với Thầy mình, vì tội tham lam mà bán đứng Thầy mình với giá rẻ mạt như vậy.

-        Tội ăn cắp: Mặc dầu ông Giuđa được mọi người trong nhóm tín nhiệm, chọn ông làm thủ quỹ, nhưng ông thường lén lút lấy tiền để xài riêng, như trong Phúc Âm của thánh Gioan đã đề cập: “Y nói thế, không phải vì lo cho người nghèo, nhưng vì y là một tên ăn cắp: y giữ túi tiền và thường lấy cho mình những gì người ta bỏ vào quỹ chung (x. Ga 12, 6).

-        Tội cứng đầu, lỳ lợm và làm theo ý riêng: Trong giờ phút ly biệt, khi Chúa Giêsu và các môn đệ ăn bữa tiệc cuối cùng, Giuđa không nghe lời Thầy khuyên và cũng không màng đến các anh em đang rất buồn và bất mãn vì ý đồ kẻ muốn bán Thầy của ông (x. Ga 13, 18-21). Dù Chúa Giêsu đã cảnh báo: “Chính anh là người nộp thầy” (x. Mt 26, 22-25), mà anh vẫn không cẩn thận, không chịu tin tưởng và lắng nghe.

-        Tội lén lút làm chuyện xấu: Để thực hiện mưu đồ nộp thầy cho quân lính, Giuđa lén lút lánh mặt anh em, trong đêm tối đi ra ngoài để tìm cơ hội thuận tiện thực hiện mưu đồ này: “Hắn ưng thuận và tìm dịp tiện để nộp Đức Giêsu cho họ, lúc không có đám đông” (x. Lc 22, 6).

-        Tội lợi dụng danh nghĩa: Ông Giuđa lợi dụng danh nghĩa lấy cớ giúp người nghèo để lường gạt người khác. Bằng chứng là khi cô Maria, em gái cô Matta, đã dùng 300 quan tiền mua dầu thơm để rửa chân cho Thầy thì Giuđa khiển trách, mắng cô là phung phí, nên để số tiền ấy đưa cho người nghèo còn tốt hơn. Thực ra ông mượn lý do giúp người nghèo để che đậy tính gian tham của mình, vì hễ có ai góp tiền vào quỹ chung, ông lấy nó để dùng theo ý riêng của mình (x. Ga 12, 5-6).

-        Tội trốn không dự tiệc Thánh Thể: Trong khi 11 môn đệ ngồi lại ăn tiệc với Thầy mình thì ông Giuđa không hề màng tới. Khi mọi người đang quây quần bên Thầy mình trong “giờ phút Chúa thi ân, ơn cả nghĩa dày” (Tv 69/68), thì ông Giuđa lại bỏ đi gặp quân du dêu mà tìm cách bán Thầy mình cho họ.

-        Tội lừa dối Thầy mình: Ông lấy nụ hôn là dấu yêu thương để chỉ điểm cho kẻ ác bắt Chúa Giêsu, dù lúc ấy Thầy vẫn gọi ông là bạn (x. Mt 26, 50).

-        Tội thất vọng: Ông Giuđa sau khi phạm tội, thấy Thầy mình bị bắt và bị đánh đập dã man thì ông rất thất vọng, không còn tin vào lòng nhân từ hay thương xót và tha thứ của Chúa, nên thắt cổ tự tử (x. Mt 27, 3-5). Nói cách khác, sau khi phản bội Thầy, ông không hành động như cách ông Phêrô đã làm, là biết sám hối, khóc lóc, ăn năn và xin ơn tha thứ (x. Mt 26, 69-75), nhưng chọn cái chết tức tưởi để kết liễu đời mình.

Đây là tám thứ tội mà ông Giuđa phạm phải được ghi chép rõ ràng trong Kinh Thánh. Như thế, mặc dầu được chọn trở thành môn đệ của Chúa Giêsu, mặc dầu ông đồng ý nhập vào hàng ngũ đông đồ và nhận trách vụ quản lý trong nhóm các môn đệ, nhưng ông không sống và làm đúng với chức vụ và nhân phẩm của mình. Ông đã phạm nhiều thứ tội và những thứ tội đó dẫn đến một hậu quả hết sức đau buồn.

3.     Thiên Chúa có đẩy Giuđa vào sự chết không?

Không, Thiên Chúa không đẩy ông Giuđa vào sự chết, nhưng vì ông ngoan cố, không ăn năn hối tội, không tin vào tình thương của Chúa mà tự mình tìm đến cái chết.

Theo lời Kinh Thánh, “Thiên Chúa không làm ra cái chết, chẳng vui gì khi sinh mạng tiêu vong” (Kn 1, 13). Nhưng chính Giuđa đã tự tạo ra hỏa ngục cho mình, như bài viết đã đề cập, vì ông ta không chịu nghe lời Thầy mình cảnh báo, mà vẫn lỳ lợm sống giả dối, tham lam tiền của, và tự thắt cổ mà chết (x. Mt 27, 3-5).

Hơn nữa, Công Đồng Vatican II trong Hiến Chế Hội Thánh số 14 cũng nói: “Người đã thuộc về Chúa Kitô mà không kiên trì sống đức ái, thì xác nó thuộc về Hội Thánh, linh hồn nó ở ngoài Hội Thánh! Kẻ ấy chẳng những không được Chúa cứu độ mà còn bị xét xử nghiêm khắc hơn.

Riêng với Đức Giêsu, Ngài đã từng than phiền về Giuđa, kẻ nộp Ngài rằng: “Thà nó đừng sinh ra thì hơn” (x. Mt 26, 24). Đã có lần Ngài cầu nguyện cùng Đức Chúa Cha về Giuđa: “Lạy Cha, trong những kẻ Cha ban cho Con, Con không làm mất một người nào, trừ ra con người hư đốn” (x. Ga 17, 12).

Vậy, Kinh Thánh và Truyền thống đức tin của Giáo Hội khẳng định cho chúng ta rằng Thiên Chúa của chúng ta là Thiên Chúa của tình yêu và công chính. Thiên Chúa luôn yêu thương chúng ta, muốn chúng ta sống tốt lành, đồng thời Ngài sẵn sàng thưởng công Nước Thiên đàng cho chúng ta. Tuy nhiên, Thiên Chúa cũng rất công bằng, Ngài cũng sẽ phạt chúng ta nếu chúng ta không sống theo lời dạy của Ngài. Vì vậy, trong thư gửi tín hữu Do thái, thánh Phaolô nhắc nhở chúng ta: “Với lòng biết ơn đó, chúng ta hãy kính sợ mà phụng thờ Thiên Chúa cho đẹp lòng Người. Quả thật, Thiên Chúa chúng ta là một ngọn lửa thiêu” (Dt 12, 29). Bởi đó, không ai được lạm dụng tình thương của Thiên Chúa mà chìm mình trong tội lỗi, chỉ muốn đòi Chúa thể hiện tình yêu cứu mình, mà quên rằng “Chúa sẽ trả lại cho mỗi người cân xứng tùy theo công việc họ đã làm, hoặc lành hoặc dữ!” (x. 2 Cr 5, 10).

4.     cần ông Giuđa bán Chúa, để Chúa chịu chết ta mới được cứu độ không?

Không. Nếu có người nói ông Giuđa có công trạng trong việc giúp Thiên Chúa hoàn thành công cuộc cứu độ, theo các nhà thần học, đây là một suy nghĩ sai lầm. Vì Thiên Chúa, ngay từ đầu đã có kế hoạch cứu độ của Ngài, Ngài không cần đến hành vi tội lỗi và cái chết tức tưởi của ông Giuđa, nên không thể suy nghĩ rằng Giuđa góp công với Đức Giêsu trong việc thực hiện cứu độ loài người được. Việc Con Thiên Chúa phải chịu chết là tội ác của loài người, là sự ngoan cố không chịu lắng nghe lời rao giảng thống hối của Ngài, tệ đến mức họ phải quyết định phải loại bỏ Ngài đi ra khỏi đời sống của họ.

Giáo hội dạy ta rằng, sự đau khổ và cái chết của Chúa Giêsu là một mầu nhiệm. Vì thế, cốt lõi của vấn đề là Chúa muốn cứu độ nhân loại, cứu nhân loại khỏi sự hư nát do tội gây ra. Ngay khi ông bà Adong và Eva phạm tội, Thiên Chúa đã sai nhiều vị tiên tri đến rao giảng sự thống hối, để ai tin thì sẽ được cứu sống. Cuối cùng Ngài cũng sai chính Con Một của Ngài đến trần gian để dạy bảo và kêu gọi mọi người: Ai muốn Chúa cứu độ phải được tái sinh bởi nước và Thần Khí (x. Ga 3, 5). Đây là ơn ban cho hết thảy mọi dân mọi nước, ai nấy đếu có quyền đến để lãnh nhận “không phải trả đồng nào” (Is 55,1).

Quả thật, nhiều thần học gia khẳng định rằng, nếu nói đến sự cộng tác trong chương trình cứu độ của Thiên Chúa, thì người có công trong vai trò cứu độ này, chính là Đức Mẹ Maria. Đức Maria được Thiên Chúa đặc cách cho trở nên Đấng Vô Nhiễm Nguyên Tội và đầy ân sủng giữa muôn vàn người phụ nữ (x. Lc 1, 30). Vì Chúa có ý định chọn Mẹ làm Mẹ Thiên Chúa, nên Mẹ đã được trở nên tuyệt tác trong công trình tạo dựng của Ngài, ngay khi được thụ thai trong lòng bà Anna. Như thế  Đức Maria được ơn phúc lãnh nhận ơn cứu chuộc do Con Thiên Chúa thực hiện, chứ đâu phải chờ đến khi Chúa Giêsu từ cõi chết sống lại mới sinh ơn cứu độ. Nói cách khác, Đức Maria được Thiên Chúa cứu chuộc trước khi Con Thiên Chúa làm người. Nhờ có Mẹ mà toàn thể nhân loại chúng ta mới nhận biết Đức Giêsu và đón nhận ơn cứu độ do Ngài thực hiện. Cho nên không thể cho rằng ông Giuđa góp phần vào công cuộc cứu chuộc loài người của Thiên Chúa được.

5.     Vài nhận định thay lời kết

Thật không sai khi ta đưa ra nhận định, rằng Giuđa đã trải qua một cảm giác hết sức đau buồn và tuyệt vọng, ông đã khóc rất nhiều vì tội phản bội Thầy mình. Ông than rằng: “Tôi đã phạm tội nộp người vô tội, khiến Người phải chết oan” (Mt. 28, 4). Ông phản bội Chúa vì tham mấy đồng tiền lẻ, ông bán Chúa vì cái mộng làm quan nhưng giấc mộng đó đã không thành. Có thể ông bán Chúa vì mất niềm tin vào Ngài, khi những ngày lên Giêrusalem Chúa đã “bị dồn vào cái chết.” Sự thật hết sức phũ phàng, chẳng có cái gì để hy vọng nữa, ông trở nên giận dữ, thậm chí sợ hãi khi quân dữ đang kéo tới vào những lúc trời tối. Một cảnh tượng hết sức hãi hùng, vì thể, chối bỏ Chúa là cách tốt nhất để ông chạy thoát khỏi sự nguy hiểm sắp xảy ra. Ông bỏ chạy khỏi hiện trường để cứu lấy chính mình.

Giuđa đã rất hối hận và đã đi vào con đường cụt nơi đó phủ đầy bóng tối và chết chóc, ông cảm thấy lẻ loi, cô độc để rồi treo cổ trong khu vườn bỏ hoang. Vậy, có phải Giuđa xuống địa ngục bởi vì ông đã tự tử hay không? Rõ ràng, tự tử là tội, vì nó chống lại Thiên Chúa (Giáo Luật Giáo Hội Công Giáo, số 2281), nhưng đây không phải lý do tại sao Giuđa xuống địa ngục. Nhiều ý kiến cho rằng, ông Giuđa xuống địa ngục, bởi vì ông chưa bao giờ thật sự đứng về “phe” của Chúa, ông không dâng đời sống của chính mình cho Chúa Giêsu và quyết tâm theo Ngài cách cách trọn vẹn. Vì thế, như đã bàn luận ở trên, mặc dầu được Chúa gọi làm môn đệ nhưng ông vẫn âm thầm sống và hành động theo ý riêng của mình.

thể có người cho rằng Giuđa đã ăn năn về hành vi sai trái của ông. Nhưng Kinh Thánh chỉ thuật lại rằng: “Bấy giờ, Giu-đa, kẻ đã nộp Người, thấy Người bị kết án thì hối hận. Hắn đem ba mươi đồng bạc trả lại cho các thượng tế và kỳ mục mà nói: Tôi đã phạm tội nộp người vô tội, khiến Người phải chết oan” (Mt. 27, 3). Đúng, ông Giuđa đã rất đau buồn về tội lỗi của mình, nhưng ông không xin Chúa tha thứ như ông Phêrô đã từng làm nhưng lựa chọn cái chết, chết cách thê thảm. Đây là điểm khác biệt, là bài học cho mỗi người chúng ta: cả hai ông đều phạm tội chối Thầy, cả hai đều vô cùng hối hận, nhưng khi ông Phêrô biết đặt niềm tin vào Chúa, ông xin ơn tha thứ thì được Chúa thứ tha; còn Giuđa, vì mất hết niềm tin vào cuộc sống và vào chính Thiên Chúa tình thương, thì hậu quả dành cho ông là cái chết.

Đây là một bằng chứng cụ thể, rằng ông Giuđa chết mà chưa được tha tội. Nếu theo Giáo luật, thì ông không được lên Thiên đàng. Tuy nhiên, khi suy bàn về những người tự tử, Giáo Hội cũng dạy ta rằng cần tiếp tục hy vọng vào Chúa, vào tình thương và lòng từ bi hay tha thứ của Ngài. Cụ thể, giáo luật số 2283 viết: “Ta không được tuyệt vọng về phần rỗi đời đời của những người tự tử. Thiên Chúa có thể thu xếp cho họ có cơ hội sám hối để được ơn tha thứ, bằng những đường lối mà chỉ một mình Người biết.”

Bài học rất có giá trị trong câu chuyện này dành cho chúng ta, đó là cần tiếp tục quan tâm và giúp đỡ anh chị em xung quanh nhiều hơn để ai nấy đều có cuộc sống vui tươi và hạnh phúc. Nếu chúng ta biết có một ai đó chọn cách tự tử để kết liễu cuộc đời họ, thì chúng ta cũng nên tiếp tục cầu nguyện cho họ, cho gia đình và những người thân quen của họ. Vì giáo luật còn viết thêm: “Hội Thánh vẫn cầu nguyện cho những người hủy hoại mạng sống mình.”

Mùa Chay 2021

Linh mục Antôn Phạm Trọng Quang, SVD

(Hình sưu tầm)


Bài đăng trên Vietcatholic

http://www.vietcatholic.net/News/Html/266523.htm


21.2.21

HIỂU THÊM Ý NGHĨA CỦA VIỆC BÁC ÁI

 

HIỂU THÊM Ý NGHĨA CỦA VIỆC BÁC ÁI

Chúng ta đã bước vào Mùa Chay được ít ngày, Giáo Hội kêu gọi chúng ta dùng thời gian này để thực hiện các việc Giữ Chay, Cầu Nguyện và Bố Thí, thường gọi là Làm Việc Bác Ái.

Trong Sứ Điệp Mùa Chay năm nay, Đức Thánh Cha Phanxicô viết rằng, “con đường khó nghèo và từ bỏ chính mình qua việc giữ chay, quan tâm và yêu thương chăm sóc người nghèo qua việc làm bác ái, và trò chuyện như trẻ thơ với Chúa Cha qua việc cầu nguyện giúp chúng ta có thể sống đức tin chân thành, đức cậy sống động và đức ái hiệu quả.” (Bản dịch của Vietcatholic)

Chúng ta có thể dành nhiều thời gian để chỉa về ý nghĩa của ba việc làm này. Tuy nhiên trong khuôn khổ của bài viết, tôi muốn chia sẻ thêm chút ít về ý nghĩa của việc bố thí.

Trước hết việc bố thí hay việc làm bác ái là thể hiện tình yêu và sự quan tâm của chúng ta đối với người khác. Nói theo lời của Thánh Thomas Aquinas, bác ái đó là “ước muốn hoặc làm điều gì tốt đẹp và mang lại hạnh phúc cho người khác” (Tổng Luận Thần Học, II.II.26.2). Vậy việc làm tốt đẹp đây là gì? Hay nói cách khác, chúng ta nên bố thí điều gì để mang lại lợi ích và hạnh phúc cho người khác?

Thứ nhất, đó là bố thí vật chất. Thực thi việc bác ái cho người nghèo (almsgiving) là một việc làm rất thông dụng của chúng ta từ trước đến nay. Nhất là trong dịp Mùa Chay, Giáo Hội kêu gọi chúng ta ăn chay kiêng thịt, giảm bớt chi tiêu để dành tiền giúp cho người nghèo và những ai già nua bệnh tật. Tuy nhiên, đây chỉ là việc bố thí sơ đẳng nhất, ngoài ra chúng ta còn cách bố thí có giá trị cao đẹp hơn và mang ý nghĩa sâu xa hơn nữa.

Thứ hai, là bố thí tinh thần. Việc bố thí này được hiểu như là sự quan tâm, cảm thông, chăm sóc người khác hay dành thời gian quý báu của chúng ta cho họ. Ví dụ, trong Mùa Chay này chúng ta giảm bớt thời gian giải trí, cắt giảm thời gian xem tivi, dùng vi tính hay dùng điện thoại, để thăm viếng nhau, gọi điện quan tâm những anh chị em cao niên, bệnh tật và nhiều trường hợp neo đơn khác.

Cuối cùng, có một món quà mà chúng ta đang có và có thể bố thí cho người khác, đó là món quà đức tin. Đây là việc bác ái quan trọng nhất và có giá trị cao thượng nhất, là khi chúng ta sẵn sàng chia sẻ đức tin Công Giáo ta cho anh chị em khác. Nếu tôi nói chia sẻ món quà đức tin có nghĩa là tôi muốn nhấn mạnh đến tính cần thiết và cấp bách của công việc truyền giáo, sứ vụ mà chúng ta lãnh nhận từ Thiên Chúa: “hãy đi khắp tứ phương thiên hạ, luôn báo Tin Mừng cho mọi loài thọ tạo.” Mt, 16, 15).

Đối với các tín hữu, việc loan báo Ting Mừng hay hay sứ vụ truyền giáo nói lên căn tính của chúng ta và của Giáo Hội. Công Đồng Vatican II khẳng định cho ta điề này: “Tự bản tính, Giáo Hội lữ hành là truyền giáo, vì chính Giáo Hội bắt nguồn từ sứ mạng của Chúa Con và Chúa Thánh Thần theo ý định của Thiên Chúa Cha” (AG 2).

Mùa Chay về, Giáo hội một lần nữa kêu gọi chúng ta gia tăng việc cầu nguyện, giữ chay và thực thi việc bác ái. Đâu đâu chúng ta đều nhìn thấy người nghèo, số người nghèo không bao giờ giảm bớt, thậm chí còn gia tăng. Nghèo ở đây không chỉ nghèo về vật chất nhưng còn nghèo về tinh thần, nghèo tình thương và nghèo về niềm tin tôn giáo.

Vậy, xin Thiên Chúa chúc lành cho mọi người chúng ta, giúp chúng ta sống một Mùa Chay sốt sắng, quảng đại và nhiệt thành, để chúng ta tiếp tục thực thi công việc bác ái, bố thí những điều cần thiết và tốt đẹp cho anh chị em mình.

Linh mục Antôn Phạm Trọng Quang, SVD


12.2.21

Để Lộc Thánh Thiên Chúa Được Sinh Hoa Kết Trái


Suy niệm ngày Tin Mừng Mồng Ba Tết-Thánh hóa công ăn việc làm

(Mt, 25, 14-30)

 

Đài Loan có khoảng gần 70% dân số theo đạo Phật và đạo Giáo nên cứ mỗi dịp Xuân về các chùa chiền, đình, miếu ở đây đều tấp nập người về đi lễ. Với tâm niệm của người có niềm tin, những ngày đầu Xuân là dịp đặc biệt để họ đến chùa, đình hoặc miếu để cúng vái, với mục đích tạ ơn các vị thần linh và đức Phật đã ban phước cho họ trong một năm qua hoặc để giải các “hạn”, còn gọi để xóa đi những điều không may. Ngoài ra, khi lên chùa, họ cũng muốn hái lộc, và cầu xin sự bình an và những điều may cho năm mới.

Có nhiều thứ lộc họ hái để mang về nhà, đó là các câu đối, các câu Phật pháp hay các lời dạy trong kinh điển của các vị thần linh. Cũng có người thích nhận được hoa, trái cây và nhiều vật quý báu khác. Đặc biệt nhiều ngôi chùa còn phát những đồng tiền nhỏ để dân chúng nhận về làm “vốn” cho công việc kinh doanh trong năm.

Quả vậy, điều rất thú vị khi đến chùa, miếu hay đình trong dịp đầu năm của người Đài Loan cũng không chỉ để hái lộc, họ cũng rất độ lượng “làm công quả”, dâng cúng tiền bạc cho nhà chùa để tỏ lòng biết ơn đức Phật và các vị thần linh đã phù hộ cho công việc làm ăn của họ trong năm qua, đồng thời giúp phát triển tôn giáo cũng như các công tác xã hội của họ.

Có nhiều điểm tương đồng khi so sánh truyền thống đi lễ chùa miếu của người Đài Loan với truyền thống mừng Xuân của người Công Giáo Việt Nam. Giáo Hội chúng ta cũng rất coi trọng truyền thống văn hóa và các nghi thức phụng vụ trong những ngày Tết.

Những ngày đầu Xuân, trong các nhà thờ Công giáo Việt Nam, đâu đâu cũng tràn ngập người về dự lễ. Đặc biệt, ba ngày Tết được coi như là những giây phút thiêng liêng chúng ta dùng để tạ ơn Thiên Chúa, cầu cho các bậc tổ tiên và xin Chúa thánh hóa công ăn việc làm.

Thật tài tình, các thần học gia và chuyên gia phụng vụ đã chọn các bài đọc dùng trong “ngày thánh hóa công ăn việc làm” rất có ý nghĩa linh thánh và đầy tính văn hóa. Các bài đọc này đặc biệt nói lên tình yêu Thiên Chúa dành cho loài người và cũng như sứ vụ của con người được cộng tác với Ngài trong việc xây dựng thế giới này ngày càng tốt đẹp hơn.

Thiên Chúa trao ban cho con người công việc làm ăn

Bài đọc một của thánh lễ hôm nay, Sách Sáng Thể thuật lại, sau khi Thiên Chúa hoàn thành công việc sáng tạo muôn loài trời đất, Ngài “đem con người đặt vào vườn E-đen, để cày cấy và canh giữ đất đai” (St. 2, 15). Như thế, từ thuở ban đầu Thiên Chúa đã trao ban cho con người hết mọi loài thọ tạo và giao cho trách nhiệm trông coi và canh tân thế giới này. Mặc dầu các công trình sáng tạo của Thiên Chúa đã rất hoàn hảo, nhưng Ngài muốn con người không được yên nghỉ mà luôn phải công tác.

Công việc làm ăn hằng ngày của con người không chỉ mang lại những lợi ích hằng ngày cho nhu cầu của con người mà còn mang một ý nghĩa thiêng liêng rất cao cả, vì công việc này được Thiên Chúa chúc lành và trao phó vào tay con người. Tất cả mọi công việc làm ăn, vì thế rất cần thiết, chính đáng và được tôn trọng.

Nói cách khác, hoàn thành công việc hàng ngày là một sứ vụ cấp bách, cho nên không ai được sống vô kỷ luật, biếng nhác, hay tìm cách trốn tránh chẳng muốn làm việc gì. Thánh Phao-lô thậm chí rất nghiêm khắc khi ngài dạy rằng: “Nhân danh Chúa Giê-su Ki-tô, tôi truyền dạy và khuyên nhủ anh em hãy ở yên mà làm việc, để có của nuôi thân. Hãy làm việc thiện, đừng sờn lòng nản chí” (2 Tx 3, 12-13).

Thiên Chúa ban ơn để con người hoàn thành công việc

Khi trao ban công việc cho con người, Thiên Chúa không để mặc cho con người tự mình hoàn thành nhưng Ngài ban cho con người đủ ơn lành, khả năng và địa vị tùy theo tính cách và hoàn cảnh của từng người để hoàn thành công việc được giao.

Sách Tin Mừng thánh Mathêu thuật lại câu chuyện, “có người kia sắp đi xa, liền gọi đầy tớ đến mà giao phó của cải mình cho họ. Ông cho người này năm yến, người kia hai yến, người khác nữa một yến, tuỳ khả năng riêng mỗi người” (Mt 25, 14-15).

Quả vậy, Thiên Chúa đặt chúng ta vào nhiều môi trường làm khác nhau, có người làm việc trong ruộng vườn, có người làm việc trong nhà máy hay văn phòng, lại có người làm việc trên giảng đường, bệnh viện hay trong nhà thờ... Ngài không để chúng ta vất vả khó nhọc một mình mà luôn ban đủ sức mạnh cần thiết để chúng ta hoàn thành công việc của mình. Thiên Chúa thấu hiểu những vất vả và khó nhọc của chúng ta. Những giọt mồ hôi và nước mắt của chúng ta đều được Ngài nhìn nhận và thánh hóa chúng thành những của lễ tiến dâng đẹp lòng Ngài.

Điều Thiên Chúa muốn nơi mỗi người chúng ta là siêng năng làm việc, phát huy hết khả năng của mình, để công việc đó mang lợi ích cho gia đình, cho xã hội và Giáo Hội. Việc chúng ta cầu xin Thiên Chúa chúc lành và thánh hóa công việc làm là để chúng ta củng cố niềm tin và luôn biết dựa vào sức mạnh của Ngài để hoàn thành công việc mà không bao giờ bị vương vấn bởi những vất vả và thử thách của nó.

Lời kết

Những người tin vào đức Phật và các vị thần linh ở Đài Loan đến miếu hoặc đình chùa vào những ngày Xuân để xin lộc và dùng “tài lộc” đó để làm ăn kinh doanh, sau một năm họ trở lại để tạ ơn các vị thần của họ. Còn chúng ta, ước gì những ngày đầu năm, khi đi tham dự thánh lễ, khi cầu xin Chúa thánh hóa công ăn việc làm, ta cũng luôn biết tạ ơn và tin tưởng vào sự quan phòng và trợ giúp của Thiên Chúa. Xin cho mọi người chúng ta biết dùng “vốn lộc” Ngài ban để sinh hoa kết trái như “người lãnh năm yến lấy số tiền ấy đi làm ăn buôn bán, và gây lời được năm yến khác; người đã lãnh hai yến gây lời được hai yến khác” (Mt 25, 16-17).

Ca dao tục ngữ Việt Nam có câu: “Trời nào có phụ ai đâu! Hay làm thì giàu, có chí thì nên.” Vì thế, chỉ cần chúng ta chuyên chăm cần cù làm việc, Thiên Chúa sẽ chúc lành và thánh hóa để công việc chúng ta được thành công. Tin tưởng rằng chúng ta có đủ hào khí bắt đầu một năm làm việc mới, và năm sau chúng ta cũng tràn đầy hy vọng đến trước mặt Chúa dâng lên Ngài thành quả công việc của năm, và Ngài sẽ nói với chúng ta: “Khá lắm! Hỡi đầy tớ tài giỏi và trung thành! Hãy và mà hưởng niềm vui mà ta đã dành cho ngươi” (Mt 25, 23).

Kính chúc quý vị năm mới tràn đầy ơn Chúa, VẠN SỰ AN KHANG!

 

Linh mục Antôn Phạm Trọng Quang, SVD

 

8.1.21

Chúa Chịu Phép Rửa và Những Mối Dây Liên Kết

 

Chúa Chịu Phép Rửa và Những Mối Dây Hiệp Nhất

 

Mc 1, 7-11

 


Năm 2020 qua đi, chúng ta để lại phía sau những nuối tiếc, buồn phiền và thất vọng, và tự tin bước vào năm mới 2021 với nhiều niềm hy vọng, cầu mong một năm mới đầy may mắn, thành công và dồi dào sức khỏe. Lịch Phụng vụ của Giáo hội hôm nay cũng kết thúc Mùa Giáng Sinh để bắt đầu Mùa Thường Niên với Thánh Lễ Chúa Giê-su chịu phép rửa trên sông Gio-đan.

 

Đây là một dấu mốc rất quan trọng nhằm đánh dấu sự khởi đầu sứ mệnh Cứu Thế của Chúa Giê-su, sau 30 năm xuống thế làm người, Người bắt đầu cuộc sống công khai sứ vụ loan báo Tin Mừng cứu độ. Với tinh thần khiêm tốn và tuân phục, Chúa Ki-tô đã đến sông Gio-đan và xin nhận phép rửa từ ông Gio-an mặc dầu Người không hề vướng mắc một vết nhơ tội lỗi nào.

 

Theo tường trình của thánh Mác-cô, sau khi Chúa Giê-su vừa chịu phép rửa xong, Người bước lên khỏi nước, thì các tầng trời liền mở ra và thấy Thần Khí Chúa như chim bồ câu ngự xuống trên Người. Lại có tiếng Chúa Cha từ trời phán: “Con là Con yêu dấu của Cha, Cha hài lòng về Con” (Mc 1, 11).

 

Phép rửa sám hối mà Chúa Giê-su đã lãnh nhận nơi sông Gio-đan là Bí Tích Người đã thiết lập, để bắt đầu một chương trình công khai rao giảng, và cũng để tẩy rửa và giải thoát chúng ta khỏi ách nô lệ tội lỗi và quyền lực hỏa ngục, nhằm phục hồi quyền được làm con Thiên Chúa của nhân loại chúng ta. Qua sự kiện Chúa Giê-su chịu phép rửa, chúng ta thấy được một số mối dây hiệp nhất rất quan trọng.

 

Mối Dây Hiệp Nhất Chúng Ta Với Chúa Ki-tô

 

Trong tường thuật của thánh Mác-cô, hình ảnh Thiên Chúa Ba Ngôi đã được mặc khải với tiếng phán từ trời, rằng Đức Giê-su là Con yêu dấu của Chúa Cha, được Chúa Cha sai đến trần gian để hoàn thành sứ vụ cứu chuộc của Ngài. Còn hình ảnh Chúa Thánh Thần hiện ra dưới hình ảnh chim bồ câu để thánh hóa sứ vụ của Chúa Giê-su. Như thế sứ vụ này có sự tham dự của Ba Ngôi Thiên Chúa nhằm thiết lập lại tương quan của chúng ta với Thiên Chúa, tương quan này đã bị phá vỡ bởi A-đam, người đã không nghe lời Thiên Chúa mà phá vỡ lời minh ước được thiết lập ngay từ thuở ban đầu.

 

Kinh Thánh khẳng định, phép rửa là nền tảng của toàn bộ đời sống Ki-tô hữu, là cơ hội dẫn đưa chúng ta vào sự sống viên mãn và vào mối dây hiệp nhất với Chúa Ki-tô, như lời của thánh Phao-lô nói: “Khi chúng ta được dìm vào nước Thánh Tẩy để nên một với Đức Ki-tô Giê-su, chúng ta được dìm vào trong cái chết của Người, chúng ta đã cùng được mai táng với Người. Bởi thế, như Người đã được sống lại từ cõi chết nhờ quyền năng vinh hiển của Chúa Cha, thì chúng ta cũng được sống một đời sống mới” (Rm 6, 3-4).

 

Thật vậy, bí tích Thánh Tẩy là một điều kiện rất cần thiết để đưa chúng ta đến việc kết hiệp mật thiết với Thiên Chúa qua Đức Ki-tô. Vì khi lãnh nhận phép rửa, chúng ta được sạch tội, được trở thành “tạo vật mới” (2 Cr 5, 17), “thành nghĩa tử của Thiên Chúa” (Gl 4, 5), “thành chi thể của Chúa Ki-tô” (1 Cr 6, 15) và nhiều ơn phúc khác. Nhờ đó, chúng ta được ơn công chính hóa để tin tưởng, cậy trông và yêu mến Ngài. Cũng nhờ đó, chúng ta biết sống công chính và hành động đúng đắn dưới sự hướng dẫn của Chúa Thánh Thần.

 

Mối Dây Hiệp Nhất Các Ki-tô Hữu

 

Khi chúng ta lãnh nhận Bí Tích Thánh Tẩy là ta trở nên một thành viên của Giáo hội. Bí tích này đặt nền tảng cho sự hiệp thông của chúng ta với anh chị em của mình, những ai cùng chịu một phép rửa trong Giáo Hội Công Giáo. Như Sách Giáo Lý Hội Thánh Công Giáo dạy: “Thật vậy, những người tin ở Chúa Ki-tô, được công chính hóa nhờ đức tin khi chịu phép rửa tội, họ đã được tháp nhập vào Chúa Ki-tô, vì thế họ có quyền mang danh Ki-tô hữu và xứng đáng được con cái của Hội Thánh Công Giáo nhìn nhận là anh em trong Chúa” (GLHTCG, số 1271).

 

Nói cách khác, nhờ phép Thánh Tẩy mà chúng ta được thông phần vào nhiệm thể của Chúa Ki-tô, chúng ta trở thành một phần tử trong Giáo Hội trong đó Đức Ki-tô là đầu, chúng ta là những chi thể sống động với cùng một đức tin. Vì được liên kết với Chúa Ki-tô nên mọi Ki-tô hữu đều được tham sự vào chức vụ tư tế, vương giả và tiên tri của Chúa Ki-tô.

 

Nghĩa là, không chỉ có một mình chúng ta được liên kết với Đức Ki-tô, nhưng có nhiều anh chị em cũng được liên kết với Người khi họ chịu phép rửa. Và trong Đức Ki-tô, chúng ta được trở nên anh chị em với nhau trong cùng một gia đình Giáo Hội. Đã là thành thành viên, chúng ta được hưởng trọn vẹn những ân huệ mà Giáo Hội mang lại, đồng thời cũng có trách nhiệm bảo vệ và xây dựng Giáo Hội này ngày càng được thánh thiện và vững mạnh hơn.

 

Sứ Vụ Loan Báo Tin Mừng

 

Như đã đề cập trên đây, khi lãnh nhận Bí Tích Rửa Tội, chúng ta được Thiên Chúa kêu gọi trở thành môn đệ của Chúa Giê-su. Chúng ta đón nhận món quà của Bí Tích Rửa Tội là món quà được “trở nên tạo vật mới” trong Đức Ki-tô, thì chúng ta cũng chia sẻ với Người sức vụ rao giảng Tin Mừng, làm cho muôn dân trở thành môn đệ của của Chúa, như trong lời tường thuật của Thánh Mát-thêu: “Anh em hãy đi đến với muôn dân, làm phép rửa cho họ, nhân danh Chúa Cha, Chúa Con, và Chúa Thánh Thần, dạy bảo họ tuân giữ những điều Thầy đã truyền cho anh em, để muôn dân trở nên môn đệ của Thầy” (28, 19-20).

 

Hơn nữa, trong công trình cứu độ của Thiên Chúa, Ngài muốn mọi người được nghe rao giảng Tin Mừng và đón nhận phép rửa để chia sẻ quyền làm con của Ngài. Vì thế, chúng ta, những thành viên trong gia đình Giáo Hội, không thể xao lãng sứ mạng cao cả mà Chúa đã giao phó. Sứ vụ rao giảng Tin Mừng vì thế trở nên rất cấp bách. Thậm chí, theo cách diễn đạt của thánh Phao-lô, nếu chúng ta không thực thi sứ vụ rao giảng, chúng ta có lỗi trước mặt Thiên Chúa, thánh nhân viết: “khốn cho tôi, nếu tôi không rao giảng Tin Mừng” (1Cr 9,16).

 

Việc rao giảng Tin Mừng trong thời đại ngày hôm nay gặp rất nhiều khó khăn và thử thách, khi con người luôn tìm cách chối bỏ hoặc chống lại đức tin và luân lý Ki-tô giáo. Vì thế, chúng ta hãy cùng nhau cầu xin Chúa tiếp tục ban cho chúng ta lòng nhiệt thành, sự khôn ngoan, và tính kiên nhẫn, để bằng lời rao giảng và hành động của mình, chúng ta có thể trở nên chứng nhân của Chúa trong mọi hoàn cảnh và môi trường chúng ta đang sống.

 

Vì mục đích và sứ mệnh của đời sống Ki-tô hữu chúng ta, là không ngừng nỗ lực dẫn dắt mọi người đến với Chúa, giúp họ hiểu biết và đón nhận ơn Thánh Tẩy, đồng thời trở nên anh chị em với nhau bằng sợi dây liên kết mật thiết với Thiên Chúa qua Đức Ki-tô và Giáo Hội.

 

Linh mục Antôn Phạm Trọng Quang, SVD


Bài đăng trên Vietcatholic

http://www.vietcatholic.net/News/Html/264889.htm


Sứ Vụ Truyền Giáo: Lời Cam Kết Của Thành Viên Phong Trào Cursillo

  Sứ Vụ Truyền Giáo: Lời Cam Kết Của Thành Viên Phong Trào Cu rsillo   1.       Dẫn nhập Buổi chiều ngày cuối cùng khóa “khóa ba ngà...