11.12.21

ĐÁNH GIÁ THÀNH QUẢ MỤC VỤ DI DÂN CỦA GIÁO HỘI ĐÀI LOAN TỪ NHỮNG NĂM 1980 ĐẾN NAY

LM. Antôn Phạm Trọng Quang, SVD



 

       I.     I.VÀI NÉT VỀ ĐÀI LOAN VÀ SỰ DU NHẬP CỦA LAO ĐỘNG VIỆT NAM

Đài Loan, một hòn đảo nhỏ có diện tích gần 36,000 m2, với tổng dân số gần 24 triệu, và chỉ hơn 200,000 giáo dân, chiếm 0,8% dân số. Đài Loan còn có tên gọi FORMOSA hay HÒN ĐẢO NGỌC do các nhà truyền giáo Bồ Đào Nha đặt cho.

Chính phủ Đài Loan bắt đầu nới lỏng việc chính sách xuất ngoại và tiếp nhận người nước ngoài vào Đài Loan vào đầu những năm 1980. Tháng 10 năm 1989, Bộ Lao Động Đài Loan đã ký quyết định cho phép tuyển dụng lao động nước ngoài như một phần trong nỗ lực giải quyết vấn đề thiếu hụt lao động. Năm 1994, lần đầu tiên chính phủ Đài Loan công bố một “Chính Sách Hướng Nam,” nhắm đến các nước Đông Nam Á như Thái Lan, Phillipines, Inđônisia và Việt Nam.

Về phía Việt Nam, từ những năm 1990 bắt đầu chương trình đổi mới chính sách ngoại giao, tạo điều kiện cho các công ty nước ngoài vào đầu tư tại Việt Nam và tạo điều kiện cho công nhân ra nước ngoài làm việc.

Đầu những năm 1990 hai nước thiết lập Văn Phòng Kinh Tế và Văn Hóa để tiện cho việc giao dịch và làm thủ tục xin visa. Sau đó Việt Nam và Đài Loan đã bắt đầu kế hoạch hợp tác song phương. Phía Đài Loan cần nguồn lao động trẻ làm việc trong các xí nghiệp và nhà máy cơ khí, hộ lý, lao động giúp việc nhà, và chăm sóc người già.

Theo thống kê của Bộ Lao Động Đài Loan, năm 1999, chỉ có 131 lao động Việt Nam đến Đài Loan, một năm sau đó có 7,746 lao động. Tuy nhiên, con số lao động đến từ Việt Nam tăng lên rất nhanh những năm sau đó, cụ thể năm 2020 đã có 224,713 người. Năm nay, mặc dầu gặp địa dịch Covid, nhưng vẫn còn 221,000 lao động làm việc tại đây.

II.                  KHÓ KHĂN VÀ THÁCH ĐỐ CỦA NGƯỜI LAO ĐỘNG KHI ĐẾN ĐÀI LOAN?

Lao động đến với hòn đảo ngọc không gì khác ngoài tham vọng thay đổi cuộc, nhưng để đạt được giấc mơ này thật chẳng dễ dàng chút nào, thậm chí có người còn vỡ mộng.

Họ phải làm việc trong hoàn cảnh được gọi là 3D và 1L, đó là difficult (gian khổ), dangerous (nguy hiểm), dirty (dơ bẩn) và low paid (thu nhập thấp). Khi đến làm việc tại Đài Loan, các lao động phải ký hợp đồng thông qua công ty môi giới, họ phải trả một số tiền rất lớn cho cả môi giới phía Việt Nam và phía Đài Loan.

Nhiều lao động do hạn chế hiểu biết về luật, về văn hóa và tập quán của nước sở tại, do môi giới không cung cấp đầy đủ thông tin, không được đào tạo trước khi sang Đài Loan cho nên đã gặp nhiều trở ngại trong công việc. Hơn nữa kỹ năng và hiểu biết của lao động không đáp ứng yêu cầu của chủ thuê, họ không quen với mật độ lao động và đòi hỏi nghiêm khắc, nên đã bị khinh dể, đánh đập, hoặc bị trả về nước.

Người lao động chịu nhiều áp lực, lớn nhất là vấn đề tiền lương. Mặc dầu chính phủ Đài Loan quy định, mỗi tháng lao động được nhận từ 17,000 đến 22,000 Đài tệ, tuy nhiên, đa số họ lại nhận thấp hơn rất nhiều so với mức lương quy định.

Nếu nhìn vào con số thu nhập, thì người lao động phải mất ít nhất trên dưới hai năm để kiếm được đủ số tiền trả món nợ ở quê nhà. Rồi muốn kiếm được thêm tiền lời họ chỉ còn vỏn vẹn một năm làm việc, với thu nhập khoảng 120-150 triệu đồng. Dĩ nhiên công việc phải ổn, không vi phạm nội quy, không đau ốm, không nghỉ phép... để không bị khẩu trừ.

 III.          III. ĐƯỜNG HƯỚNG MỤC VỤ DI DÂN CỦA GIÁO HỘI ĐÀI LOAN.

a)      Thư mục vụ của Hội Đồng Giám Mục Đài Loan (HĐGMĐL)

Vào năm 1989, HĐGMĐL công bố Thư Mục Vụ Về Vấn Đề Lao Động Nước Ngoài.” Bức thư này dựa tuyên bố của Văn Phòng Tòa Thánh nhân ngày quốc tế di dân năm1988, với ý bày tỏ: tất cả mọi người đều có quyền tự do được di chuyển đến một nơi an toàn và được quyền làm việc như bao nhiêu cá nhân khác.”

Cụ thể Thư mục vụ này dành những lời nhắn nhủ đến các thành phần như sau, xin trích một số điểm tron bức thư:

·         Dành cho các nhà lập pháp và lãnh đạo đất nước: “Họi người cần phải được quan tâm, được lắng nghe và phải được giải quyết những khúc mắc bằng pháp luật.”

·         Dành cho các chủ thuê: Họ phải biết rằng tầm quan trọng của những người nước ngoài đã đóng góp rất nhiêu về trí tuệ, năng lực, kỹ thuật cũng như là phương tiện làm việc cho các nhà máy. Thiếu sự quan tâm về nhu cầu làm việc, về quyền lợi của công nhân thì sẽ ảnh hưởng xấu đến hiệu quả sản xuất.

·         Dành cho chính các lao động: “Khi anh em bị áp lực về ngôn ngữ, khác biệt văn hóatôn giáo, thì phía sau anh chị em còn có gia đình, có quê hương và có Giáo hội đang ủng hộ và bảo vệ anh chị em. Nhất là khi anh chị em rời xa gia đình, xa quê hương, để đến với đến Đài Loan tìm công việc, anh chị em cần phải kiên nhẫn và siêng năng làm việc”  

·         Dành cho các Giáo xứ: “chúng ta cũng mời gọi người lao động nước ngoài đến tham dự, đón tiếp họ như người nhà để họ cũng cảm thấy được tôn trọng và thông cảm. Qua những cuộc gặp gỡ này chúng ta cũng giới thiệu đức tin Công giáo cho họ. Nếu có ai không may bị tay nạn lao động, phải điều trị trong bệnh viện, thì cha xứ và Ban Mục Vụ Di Dân cũng nên đi thăm và động viên họ”.

 

b)     Thành lập Văn Phòng Trợ Giúp Di Dân công bố Chúa Nhật Di Dân (National Migrant Sunday)

Để tiến thêm một bước, cùng năm 1989 HĐGMĐL đã công bố thành lập Văn Phòng Quan Tâm Lao Động Nhập Cư tại Đài Bắc (Migrant Workers’ Concern Desk in Taipei).

Tiếp đó, vào năm 1997 HĐGMĐL cũng công bố thành lập ngày Chúa Nhật Dành Cho Người Di Dân.   

Ít năm sau đó, nhằm tiếp tục thúc đẩy công việc mục vụ di dân, HĐGMĐL vào năm 1998, viết lá thư mục vụ thứ hai gửi tới chính phủ và người dân Đài Loan, có tựa đề “Tinh Thần Liên Đới, Mục Vụ cho Lao Động Nước Ngoài” (Solidarity, A Pastoral Service For Foreign Workers).

Bức thư có đoạn viết:

Lao động nước ngoài đã đóng góp rất nhiều vào sự phát triển kinh tế của đất nước. Họ làm việc cả ngày lẫn đêm. Họ góp phần nâng cao sức mạnh cạnh tranh của Đài Loan trên thị trường kinh tế thế giới. Họ đã chấp nhận rời bỏ quê hương và người thân yêu của mình, họ đã phải điều chỉnh thái độ và phong cách sống của mình để phù hợp với văn hóa, phong tục và chương trình làm việc của người địa phương.

Mỗi Giáo phận cần thành lập một Ban mục vụ cho người lao động nước ngoài, các thành viên làm việc chung với nhau để tìm cách cải thiện công việc phục vụ cho họ.

c)      Các Giáo phận thành lập Ban Mục Vụ Di Dân

Đài Loan có bảy Giáo phận. Trong các Giáo phận có sự hiện diện của nhiều Hội dòng. Vì thế, khi HĐGMĐL kêu gọi mục vụ cho di dân, các Giáo phận và các Hội dòng đã hưởng ứng hết sức tích cực.

Nổi bật nhất là Giáo phận Tân Trúc, họ thành lập Trung Tâm Hy Vọng và Trung Tâm Phục Vụ Di Dân. Đức Giám mục bổ nhiệm các linh mục, nữ tu, và giáo dân là nhân viên và chuyên viên làm việc full time.

Giáo phận đưa ra một bản tuyên bố chung:

Sống theo khuôn mẫu của Chúa Giê-su, các trung tâm nỗ lực thúc đẩy sự công bằng, chính nghĩa điều kiện làm việc an toàn cho người lao động địa phương và lao động nước ngoài. Hy vọng sự công bằng và chính nghĩa này dần dần trở thành tiêu chuẩn cho Luật Lao Động của đất nước. Trung tâm sẽ cung cấp một nhóm nhân viên chuyên hỗ trợ và đồng hành với người di dân và gia đình của họ. Trung tâm cũng sẽ tạo điều kiện để họ có nơi thực hiện nhu cầu văn hóa và tín ngưỡng của mình.

Tiếp đó, Trung tâm kết hợp với nhiều giáo xứ trong Giáo phận sắp xếp nhiều thánh lễ bằng tiếng Anh, tiếng Inđônisia và tiếng Việt. Trung tâm mở các lớp tiếng Hoa và các lớp học hỏi pháp luật tất cả đều miễn phí. Trung tâm cũng nhận bào chữa miễn phí cho các lao động bị xâm hại tình dục, bị đánh đập vân vân.

d)     Văn Phòng Trợ Giúp Công Nhân, Di Dân Việt Nam

Do số lượng người di dân từ Việt Nam đến ngày càng cao, kể cả công nhân và các cô dâu lấy chồng Đài, Hội Dòng Truyền giáo thánh Columban, thành lập Văn Phòng Trợ Giúp Công Nhân và Di Dân Việt Nam vào năm 2004.

Văn phòng được thành lập bởi linh mục Phêrô Nguyễn Văn Hùng, với đội ngũ hơn 10 nhân viên, trong đó 2 linh mục, 4 nhân viên người Việt Nam và nhiều người Đài Loan.

Văn phòng đã nhận được nhiều sự quan tâm và giúp đỡ của nhiều cá nhân và cộng đồng ở Đài Loan cũng như nhiều nơi trên thế giới, nhất là cộng đồng người Việt tại Hoa Kỳ, Úc Châu, Canada và nhiều nước Châu Âu.

Văn Phòng thực hiện nhiều mục tiêu cấp thiết, bao gồm:

(1)   đấu tranh để “chấm dứt tệ nạn buôn người từ Việt Nam;

(2)   cung cấp kịp thời các phương thức cứu trợ, giúp đỡ các nạn nhân bị hành hạ;

(3)   cố vấn pháp luật và phái luật sư can thiệp bào chữa tại toà;

(4)   trao dồi kiến thức về luật pháp để giúp người lao động ý thức quyền làm chủ, đấu tranh cho nhân quyền, nhân phẩm của chính mình.”

 

 IV.            IV. ĐÁNH GIÁ VÀ TÁI KHẲNG ĐỊNH (thay lời kết)

Nỗ lực của Giáo hội đã giúp cho nhân phẩm của người lao động được tôn trọng, không chỉ dành cho người Việt mà cho người nhập cư từ nhiều quốc gia.

Tiếng nói của Giáo hội đã có tác động rất lớn đến việc thay đổi chính sách lao động của chính phủ Đài Loan. Ví dụ, ngày 21 tháng 10 năm 2016, Quốc Hội Đài Loan chính thức thông qua  điều 52 Luật Giao Dịch Việc Làm, hủy bỏ việc lao động nước ngoài phải xuất cảnh 1 ngày sau 3 năm làm việc. Môi giới lợi dụng thủ đoạn này để đuổi lao động về nước hoặc thu thêm nhiều khoản tiền khác.

Đây là một thành công lớn cho các nhà đấu tranh vì quyền lợi của công nhân. Ngày 21/10/2016 thật sự là một ngày vui, và một ngày vô cùng ý nghĩa với hàng trăm ngàn người lao động.

Còn một điều luật nữa mà cho tới hôm nay Giáo hội Công giáo cùng với các tổ chức phi chính phủ đang còn phải đấu tranh, đó là yêu cầu “hủy bỏ chế độ môi giới”.

Khi nói về chủ đề mục vị di dân và lao động Việt Nam tôi nhớ đến câu chuyện của người Israel khi họ phải lưu đầy ở Babilon, khi họ chịu cảnh tù đày và bị ngược đãi, khi họ kêu cầu lên Chúa thì Thiên Chúa đã gửi các tiên tri đến an ủi, đồng hành và khuyên bảo họ tiếp tục giữ vững niềm tin vào Ngài.

Ngày nay, khi người Việt ồ ạt qua các nước lao động, Thiên Chúa đã gửi đến cho họ nhiều vị “tiên tri” để đồng hành và đấu tranh cho quyền lợi của họ, đó là các linh mục và tu sĩ. Cụ thể ở Đài Loan, năm ngoái, Hội tu sĩ Việt Nam tại nước này đã kỷ niệm 30 năm thành lập hội. Ban đầu chỉ có khoảng 20 tu sĩ người Việt đến Hoa Kỳ, Úc và Canada để truyền giáo. Nhưng cho đến nay, ước tính có khoảng hơn 60 linh mục và khoảng 200 tu sĩ người Việt mục vụ tại đây.

Khi lao động và di dân người Việt cần sự giúp đỡ thì không chỉ có Cha Phêrô Nguyễn Văn Hùng và cha Phêrô Nguyễn Hùng Cường nhưng hết thảy chúng tôi, hằng trăm linh mục và tu sĩ người Việt đã sẵn sàng đưa tay ra cứu giúp họ.  

Thật vậy, khi Giáo hội có hướng đi rõ ràng, khi các Giáo phận và Hội dòng có văn phòng và nhân sự mục vụ cho di dân, nhất là trong đó có các linh mục và tu sĩ người Việt, thì đời sống của người lao động và di dân Việt Nam được cải thiện.

Tôi tin rằng, không chỉ có ở Đài Loan, nhưng còn nhiều nơi khác, nơi nào có người Việt, Thiên Chúa đã gửi các vị “tiên tri” đến nơi đó để đồng hành, hướng dẫn và giúp đỡ con cái của mình. Tạ ơn Thiên Chúa.

Vậy, để đáp lại lời mời gọi của Thiên Chúa, chúng ta, tiếp tục phát huy sứ vụ ngôn sứ của mình, để chấm dứt hiện tượng “bắt con bỏ chợ”, mặc kệ người lao động than khóc nơi đất khách quê người.

Chúng ta hãy hăng say lên đường để đi tìm các “chiên lạc” và đưa họ về cùng một đoàn chiên: quê hương, gia đình và Giáo hội.




 

24.10.21

CHÚNG TÔI KHÔNG THỂ KHÔNG NÓI  

 

Hàng năm cứ vào tháng 10 chúng ta biết đây là tháng Mân Côi, Giáo hội kêu gọi chúng ta siêng năng lần hạt để ca tụng Đức Trinh nữ Maria và xin Mẹ chuyển cầu cùng Thiên Chúa cho chúng ta. Tuy nhiên, tháng 10 cũng được gọi là tháng truyền giáo, là tháng Giáo hội dành đặc biệt để mời gọi các tín hữu cầu nguyện cho việc truyền giáo cũng như thực hiện sứ vụ truyền rao Tin Mừng cho mọi người mà họ đã lãnh nhận khi chịu Bí tích Rửa tội.

Chính vì thế, vào Chúa Nhật áp chót của tháng này, Giáo hội cử hành Ngày Thế giới Truyền giáo. Năm nay Chúa Nhật Truyền Giáo đúng vào ngày 24 tháng 10, khi mừng ngày này hãy cùng nhau suy gẫm chủ đề được Đức Thánh Cha viết trong Sứ điệp nhân Ngày Thế giới Truyền giáo: “Những gì tai đã nghe, mắt đã thấy, chúng tôi không thể không nói ra” (Cv 4, 20).

Truyền giáo là một sứ mệnh cần thiết của Giáo hội. Hay nói cách khác, căn tính của Giáo hội là truyền giáo, trách nhiệm của các tín hữu là giới thiệu Chúa cho mọi người, làm cho họ trở nên con cái của Chúa và trở thành những thành viên trong gia đình Giáo hội. Lịch sử loan báo Tin Mừng bắt đầu với mong muốn thiết tha của Chúa, Đấng kêu gọi và muốn đối thoại thân thiện với mỗi người. Thiên Chúa luôn chủ động chia sẻ tình yêu của Ngài với hết thảy mọi người.

Khi được mời gọi theo Chúa, các Tông đồ là những người đầu tiên cho chúng ta biết điều này. H kể cho chúng ta biết kinh nghiệm về việc họ được gặp Chúa và theo chân Ngài. Mọi chi tiết của cuộc gặp họ đều nhớ rất rõ. Họ nhớ ngay cả ngày và giờ lúc sự gặp gỡ được bắt đầu: “Lúc đó vào giờ thứ mười” (Ga 1, 39), tức là khoảng bốn giờ chiều. Lần đầu tiên được tiếp xúc với Chúa Giê-su, là lúc đánh dấu một điểm mốc rất quan trọng trong cuộc đời của họ. Và rồi họ đã ở lại, đi theo Người và được huấn luyện thành những môn đệ nhiệt thành để lãnh trách vụ rao giảng Tin Mừng cứu độ.

Sau khi lãnh nhận trọng trách từ Thầy của mình họ đã bắt đầu đi khắp mọi miền thiên hạ để loan báo về Đức Ki-tô, về Con Người họ đã nhận biết, “để ai tin vào Người thì sẽ được ơn cứu sống” (Ga 3, 15). Dĩ nhiên, mọi thứ không phải lúc nào cũng dễ dàng, nhưng ngược lại các môn đệ đã khởi đầu công việc truyền giáo với nhiều gian nan và khốn khó.

Sau những cố gắng của các ngài, các cộng đoàn Ki-tô hữu tiên khởi đã được thiết lập và các tín hữu bắt đầu đời sống đức tin của mình. Điều đáng chú ý là mặc dầu họ phải sống trong bầu khí thù địch và bị ghét bỏ bởi những người xung quanh, nhưng họ vẫn luôn kiên cường giữ vững đức tin và nỗ lực làm cho các cộng đoàn được lớn lên về tinh thần và phạm vi. Cụ thể, trong thông điệp của Đức Thánh Cha về Ngày Thế giới Truyền giáo năm nay, có đoạn ngài viết:

Những kinh nghiệm bị gạt ra ngoài lề và tù đày đan xen với những cuộc đấu tranh nội tâm và bên ngoài dường như mâu thuẫn và thậm chí phủ nhận những gì họ đã thấy và đã nghe. Tuy nhiên, thay vì là một khó khăn hay trở ngại khiến họ lùi bước hoặc co cụm, những trải nghiệm đó thôi thúc họ biến những vấn đề, xung đột và khó khăn thành cơ hội để thực hiện sứ mạng.

Vậy, bạn thân mến, là những thành viên trong gia đình Giáo hội, chúng ta đặc biệt được mời gọi thánh hóa môi trường mình đang sống, nỗ lực làm cho môi trường này trở thành môi trường Ki-tô giáo. Nói rõ hơn, chúng ta được giao cho sứ vụ kể về kinh nghiệm chúng ta được gặp và tin vào Chúa cho những người sống xung quanh chúng ta, để họ cũng được nghe và tin nhận Ngài, nhằm để hết thảy mọi người chúng ta được hưởng sự sống đời đời.   

Quả vậy, “những gì tai đã nghe, mắt đã thấy, chúng tôi không thể không nói ra” (Cv 4,20). Đây là lập trường của các Tông đồ sau khi được nhận biết Đức Ki-tô, họ nhất quyết phải thuật lại cho những người chưa nhận biết Ngài. Lập trường này cũng đã trở thành thái độ sống của mọi Ki-tô hữu chúng ta. Vì thế, để sống tinh thần của Chúa nhật Truyền Giáo năm nay, ngoài việc cầu nguyện và đóng góp vật chất giúp việc truyền giáo của Giáo hội, chúng ta cũng tìm cách nói cho người khác biết về Chúa, về Đấng mà chúng ta tin thờ. Không đâu xa, chúng ta tiếp tục giới thiệu Chúa cho người thân trong gia đình và cho bạn bạn bè chúng ta.

Đây là một việc làm hết sức khó khăn, nhiều lúc chúng ta cảm thấy như là “impossible mission, là điều không bao giờ thực hiện được. Nhưng hãy nhận biết rằng, những hạn chế và trở ngại nàycơ hội đặc biệt để chúng ta cầu xin Thần Khí của Chúa hướng dẫn chúng ta. Chúng ta cũng xin Ngài luôn chúc lành và thánh hóa cho những người chống đối chúng ta.

Không việc gì mà Thiên Chúa không làm được, cũng như không thể để cho một ai trong gia đình chúng ta, trong người thân và bạn bè chúng ta bị loại khỏi vòng tay yêu thương của Chúa. Vì thế chúng ta cần nỗ lực hơn và luôn kiên nhẫn trong sứ vụ truyền giáo của mình.

Xin Thiên Chúa chúc lành cho quý vị và xin kính chúc mọi người có một Ngày Thế giới Truyền giáo đầy ý nghĩa.

Linh mục Antôn Phạm Trọng Quang, SVD



(Hình sưu tập)

19.9.21

Phỏng Vấn Ca Sĩ Thanh Hoài: Ca Sĩ Có Khuôn Mặt Giống Đức Mẹ

 




Phỏng Vấn Ca Sĩ Thanh Hoài: Ca Sĩ Có Khuôn Mặt Giống Đức Mẹ

Linh mục Antôn Phạm Trọng Quang, SVD



 

§  Chào ca sĩ Thanh Hoài! Hiện nay Thanh Hoài là một ca sĩ Công Giáo rất được mến mộ không chỉ có khán giả trong nước mà còn khán giả ở nước ngoài. Thanh Hoài có biết tại sao không?

Ca sĩ Thanh Hoài: Thanh Hoài rất vui khi biết điều này. Không phải vì tên tuổi, sắc đẹp hay các yếu tố gì khác, nhưng Thanh Hoài được nhiều người biết đến và được yêu mến nhờ dòng nhạc thánh ca của mình. Thanh Hoài biết ơn người yêu âm nhạc trong và ngoài nước. Cảm ơn mọi người đã dành cho mình một sự ưu ái rất lớn này và sự quan tâm rất đặc biệt ạ. Thanh Hoài cũng rất hạnh phúc được cùng mọi người cầu nguyện qua các bài thánh ca, nhất là những ai đang sống ở hải ngoại, luôn được hướng về quê hương với lòng yêu mến và tạ ơn.

§  Thanh Hoài có thể giới thiệu đôi nét về mình?

Ca sĩ Thanh Hoài: Thanh Hoài sinh ra và lớn lên tại miền quê đất lũ, thuộc Giáo họ Xuân Yên, Giáo xứ Trang Nứa, Giáo phận Vinh (Nghệ An). Ngay từ nhỏ Thanh Hoài đã được tham gia ca đoàn giáo họ, giáo xứ, giáo hạt và cả ca đoàn giáo phận. Thanh Hoài luôn tâm niệm rằng tham gia ca đoàn là cách thức phục vụ Chúa thích hợp nhất, vì thế khi lớn lên hay khi đã lập gia đình, Thanh Hoài luôn dành rất nhiều thời gian phục vụ trong ca đoàn. Nhờ sự dạy dỗ của nhiều ca trưởng, nên Thanh Hoài đã tiến bộ rất nhiều trong ca hát.

§  Cơ duyên nào đã đưa Thanh Hoài đến với con đường ca hát, nhất là chọn hát nhạc thánh ca?

Ca sĩ Thanh Hoài: Ban đầu Thanh Hoài đã tìm đến studio và chọn cho mình những bài thánh ca yêu thíchhợp với giọng hát của mình để thu âm, quay hình rồi chia sẻ lên các trang mạng facebook, youtube... Rất may các bài thánh ca Thanh Hoài đưa lên đã được nhiều người ủng hộ, chia sẻ và lan tỏa rất nhanh trên mạng xã hội. Nhờ được sự ưu ái của người yêu âm nhạc, Thanh Hoài đãđộng lực thu âm rất nhiều bài thánh ca khác. Khi được nhiều người biết đến và yêu mến, Thanh Hoài được mời đi biểu diễn trong nhiều chương trình ca nhạc và canh thức...

Năm 2015 Thanh Hoài đã được tham gia chương trình ca nhạc canh thức do Giáo phận Vinh tổ chức. Trong đêm canh thức đó, Thanh Hoài được chọn hát solo và đã hát rất thành công, để lại ấn tượng rất sâu đậm trong lòng khán giả. Từ đó Thanh Hoài được nhiều người quan tâm và mời đi hát cho nhiều chương trình thánh ca của nhiều giáo xứ và hội đoàn thuộc nhiều giáo phận khắp mọi miền đất nước. Với số lượng khán giả yêu mến tăng cao, các bài hát của Thanh Hoài trên mạng xã hội được nghe, xem và chia sẽ rất nhiều, vì thế được nhiều nhạc sĩ đặc biệt tin tưởng và mời thu âm, quay hình cho các bài hát của họ. Chính nhờ vậy các Album kênh âm nhạc của Thanh Hoài trở nên cực kỳ phong phú, nhất là các bài thánh ca.

§  Khi ra mắt một bản thánh ca mới, mục tiêu trên hết của Thanh Hoài là gì?

Ca sĩ Thanh Hoài: Mục tiêu lớn nhất của Thanh Hoài là làm thế nào để bài hát tiếp cận được với khán giả nhanh nhất và nhiều nhất, với mục đích đưa Lời Chúa và các tâm tình cầu nguyện vào trong đời sống đức tin của nhiều người. Thánh Augustine nói “hát là hai lần cầu nguyện,” nên bằng lời ca tiếng hát, Thanh Hoài mong cùng mọi người dâng lên Chúa lời nguyện cầu chân thành và tha thiết nhất.

§  Tất cả các bài hát của Thanh Hoài đều rất dễ đi vào lòng người, tuy nhiên bài hát nào đã giúp Thanh Hoài khẳng định tên tuổi của mình?

Ca sĩ Thanh Hoài:  Như đã chia sẻ trên đây, Thanh Hoài rất may mắn được các nhạc sĩ yêu mến, tin tưởng và dành cho nhiều ca khúc hay. Vì thế, thật rất khó khi trả lời câu hỏi này, vì tất cả các bài hát đều giúp khẳng định tên tuổi của Thanh Hoài hôm nay. Tuy nhiên, hy vọng các bạn yêu mến giọng hát của Thanh Hoài đều đồng ý, những bản thánh ca, như:  Xin Chúa Chữa Lành Chúng Con của nhạc sĩ Fa Thăng, “Cho Con Thấy Chúa của Hiền Hoà, Manificat” của Linh mục Bùi Ninh, “Con Nguyện Theo Ngài của nhạc sĩ Vincente Điểm (lời của Sóng Tình), “Xin Dâng Mẹ Hội Mân Côi Anh Quốc” của nhạc Thừa Sai..., là những bản thánh ca giúp mọi người nhớ đến Thanh Hoài nhiều nhất.

§  Những kinh nghiệm hoặc cảm nghĩ nào khó quên trong sự nghiệp ca hát?

Ca sĩ Thanh Hoài:  (Cười)... Trong quá trình đi hát, có lần Thanh Hoài may mắn được đóng vai Đức Mẹ trong một bài hoạt cảnh thánh ca, vì thế sau đó khán giả gọi Thanh Hoài là “Ca sĩ có khuôn mặt giống Đức Mẹ.” Có lẽ không ngôn từ nào để diễn tả niềm hạnh phúc cho bằng khi nhận được những lời nhận xét như vậy.

§   Hiện nay nhiều người có xu huớng chăm chú vào lượt xem và trending trên youtube để đánh giá sự thành công của một ca khúc và của một ca sĩ, Thanh Hoài có bị áp lực này không?

Ca sĩ Thanh Hoài: Thật ra khi nhận được sự quan tâm của khán giả với mức lượt xem rất lớn, đó là động lực để Thanh Hoài cố gắng mỗi ngày. Càng được khán giả yêu mến thì Thanh Hoài càng cầu nguyện nhiều hơn để xin Chúa soi sáng cho mình có những tâm tình mới và phong cách mới khi hát các bài hát mới của các nhạc sĩ. Thanh Hoài tin tưởng rằng đây là cách thức tốt nhất cần phải làm để khỏi phủ lòng những người yêu thương và ủng hộ mình.

§  Thanh Hoài có một nền tảng kinh nghiệm biểu diễn vững chắc, giọng hát ngọt ngào và có ngoại hình dễ thương. Nhưng Thanh Hoài nghĩ sao khi có nhận xét: Thanh Hoài chưa thật sự bứt phá được hết tiềm năng của mình,vẫn trung thành với phong cách nhẹ nhàng và đơn giản?

Ca sĩ Thanh Hoài: Vâng, cũng có nhiều người yêu âm nhạc của Thanh Hoài hỏi sao không thay đổi phong cách khác cho mới lạ? Sao không thử làm mới bản thân xem có đột phá không? Thanh Hoài rất trân trọng những lời góp ý của khán giả dành cho mình. Tuy nhiên, Thanh Hoài nghĩ rằng hát nhạc thánh ca để cầu nguyện, nên vẫn muốn giữ cho mình một phong cách nhất định: nhẹ nhàng, đơn giản nhưng đầy tâm tình. Thanh Hoài chọn cách diễn tả các bài thánh ca với những tâm tình sâu lắng để mọi người dễ dàng đi vào không gian cầu nguyện hơn.

Nhiều lần Thanh Hoài nhận được những lời nhận xét của khán giả, rằng “tiếng hát du dương của cô làm tôi yêu mến Chúa nhiều hơn,” “các bài thánh ca êm đềm của bạn khiến tôi mê say tình yêu của Chúa tận đáy lòng, ” hay “từ khi nghe bạn hát tôi đã có đủ nghị lực để quay về với Chúa và thay đổi cuộc sống của mình...” Vâng, với Thanh Hoài, hát thánh ca là để giúp mình và mọi người cầu nguyện sốt sắng hơn, cho nên luôn muốn giữ lại phong cách nhẹ nhàng, tâm tình và đầy tính thánh thiêng như vậy.

§  Trong thời gian đại dịch, tất cả các chương trình biểu diễn đều bị hủy bỏ, vậy Thanh Hoài sử dụng thời gian này như thế nào để công việc nghệ thuật của mình không bị dán đoạn?

Ca sĩ Thanh Hoài: Từ khi có đại dịch Covid, nhất là trong thời gian giãn cách, cũng giống như mọi người, Thanh Hoài đã gặp nhiều bế tắc. Tuy nhiên, trong thời gian này các nhạc sĩ đã viết rất nhiều bản nhạc rất tâm tình và ý nghĩa. Mặc dầu Thanh Hoài không đến được các phòng studio lớn để thu âm và ghi hình, nhưng với những cách thức đơn giản nhất, Thanh Hoài vẫn luôn cố gắng hoàn thành để tiếp tục phục vụ mọi người, nhất là giúp mọi người vượt qua những lo lắng và đau buồn trong cơn đại dịch.

§  Những dự định sắp tới của Thanh Hoài gì?

Ca sĩ Thanh Hoài: Hiện tại ở Vinh chưa có sân khấu quay chuyên nghiệp. Mỗi lần quay phim Thanh Hoài phải bay vào Sài Gòn hoặc ra Hà Nội. Thanh Hoài ước muốn gầy dựng được một sân khấu quay ở Vinh để tiện cho việc thu hình, giảm bớt thời gian và kinh phí của việc đi lại.

§  Tâm tình nào Thanh Hoài muốn dành cho độc giả, nhất là những người yêu thương và ủng hộ mình?

Ca sĩ Thanh Hoài: Trước tiên Thanh Hoài xin cảm ơn sự quan tâm và ưu ái của mọi người, cảm ơn độc giả đã theo dõi chia sẻ về sự nghiệp ca hát của Thanh Hoài. Xin cảm ơn các nhạc sĩ luôn dành sự tin tưởng cho con. Cảm ơn khán giả, trong những năm qua đã luôn ủng hộ và yêu mến tiếng hát của Thanh Hoài. Nhờ những tâm tình đó của quý vị, Thanh Hoài và ekip của mình đã có động lực ra mắt nhiều ca khúc giúp ích cho các giờ cầu nguyện của quý vị. Xin mọi người tiếp tục ủng hộ và cầu nguyện cho chúng ta để những cố gắng của chúng con không phủ lòng quý vị.

Đặc biệt, xin cảm ơn cha Antôn Phạm Trọng Quang, SVD đã tạo cơ hội để chúng con được thưa chuyện với độc giả. Kính chúc cha và tất cả mọi người sức khoẻ, bình an, và tràn đầy tình thương của Chúa.

§  Cám ơn Thanh Hoài về những chia sẻ rất chân thành. Xin Chúa tiếp tục ban cho Thanh Hoài nhiều sức khoẻ và thành công trong cuộc sống cũng như trong sự nghiệp ca hát của mình!

 

 


Sứ Vụ Truyền Giáo: Lời Cam Kết Của Thành Viên Phong Trào Cursillo

  Sứ Vụ Truyền Giáo: Lời Cam Kết Của Thành Viên Phong Trào Cu rsillo   1.       Dẫn nhập Buổi chiều ngày cuối cùng khóa “khóa ba ngà...