13.5.20

ĐÂU LÀ MỤC ĐÍCH CUỐI CÙNG CỦA CUỘC ĐỜI?


ĐÂU LÀ MỤC ĐÍCH CUỐI CÙNG CỦA CUỘC ĐỜI?
Gần đây một bạn trẻ gửi cho tôi một đường link về một giảng sư trẻ hiện đang rất nổi tiếng và được nhiều bạn trẻ mến mộ ở Việt Nam. Trong đoạn clip này thầy giảng về “6 Nhu Cầu Cơ Bản Của Con Người”. Xem qua bài giảng thì biết rõ thầy vận dụng tư tưởng của nhà tâm lý học người Mỹ Abraham Harold Maslow (1908-1970), khi ông nói về 6 nhu cầu của con người (Hierarchy of needs). Tất nhiên thầy đã thêm, bớt và chỉnh sửa để cho “thích hợp” với nhu cầu của giới trẻ Việt Nam bây giờ. Thầy đã bỏ đi nhu cầu cao nhất của con người, đó là nhu cầu tâm linh và được thế vào đó là nhu cầu được sống; trong nhu cầu sống thì có tình dục và làm đẹp.
Thực ra ban đầu Maslow chỉ nêu 5 nhu cầu, đó là nhu cầu thỏa mãn thể lý (ăn, uống, ngủ, nghỉ), nhu cầu được sự an toàn (gia đình, sức khỏe, công việc, môi trường sống...), nhu cầu xã hội (giao lưu, chia sẻ, kết bạn, học hỏi kiến thức...), nhu cầu được tôn trọng (muốn được thành đạt, nổi tiếng..), và nhu cầu được thể hiện chính mình (cống hiến và thể hiện khả năng mình có, muốn được công nhận mình thành đạt...). Đến thời gian cuối đời, Maslow thêm một nhu cầu nữa, đó là nhu cầu siêu việt (nhu cầu nhận biết thế giới tâm linh, nhận biết sự mầu nhiệm...) Vì theo ông, nếu con người chỉ tìm cách thỏa mãn 5 nhu cầu đầu tiên mà quên đi nhu cầu tâm linh thì con người sẽ dễ trở nên bệnh hoạn, tàn nhẫn và dễ tuyệt vọng.
Trên thực tế, con người chúng ta luôn đi tìm thỏa mãn 5 nhu cầu đầu tiên, vì 5 nhu cầu này chúng ta có thể đạt được ngay ở đời này. Riêng những người có niềm tin tôn giáo thì họ mới được mời gọi đi tìm thỏa mãn luôn cả nhu cầu thứ sáu. Hay nói cách khác họ không dừng lại ở mức độ và phạm vi của con người mà muốn vươn tới khát vọng nhận biết thế giới của Thần Linh, Thượng Đế hay Thiên Chúa của họ. Các nhà triết học, tâm lý học, kinh tế học, xã hội học, giáo dục học... có thể giúp con người chúng ta đạt được 5 nhu cầu đầu tiên của cuộc đời. Riêng người Công giáo chúng ta, chúng ta còn có các nhà thần học và tu đức học... sẽ hướng dẫn chúng ta đạt tới việc gặp gỡ, nhận biết và tín thác vào Thiên Chúa.
Vâng, các thần học gia từ bao ngàn năm đã xoay quanh chủ đề về cuộc đời và sứ vụ của Đức Giêsu. Theo ngôn từ của thánh Gioan thuật lại Đức Giêsu là vị Chúa sẽ hướng dẫn và giúp chúng ta nhận biết thế giới tâm linh, nhận biết Thiên Chúa Cha, nhận biết sự sống đời đời, vì Ngài là “đường, là sự thật và là sự sống” (Ga14,6). Chúa Giêsu đã đến thế gian, trở thành một con người có xương có thịt như bao người, sống giữa con người, giảng dạy cho con người về chân lý sự sống. Đức tin người Công giáo xác tín rằng Ngài đến thế gian không phải chỉ để hướng dẫn con người đạt được nhu cầu vật chất, kiến thức, tình cảm, hay tương quan xã hội, mà còn giúp con người hướng lên cao để đạt được hạnh phúc đời đời trong nước thiên đàng.
Thánh Gioan đã thuật lại, trước khi chia tay cách môn đệ để chịu bắt bớ và hy sinh trên thánh giá, thì Ngài đã hứa Thiên Chúa sẽ cho Ngài sống lại và sẽ được đưa về trời. Ngài không để ta mồ côi mà Ngài chỉ đi trước để chuẩn bị cho ta một nơi thật xứng đáng như lời ngài đã hứa: “Thầy đi dọn chỗ cho anh em. Nếu Thầy đi dọn chỗ cho anh em, thì Thầy lại đến và đem anh em về với Thầy, để Thầy ở đâu, anh em cũng ở đó” (Ga 14, 2-3). Như thế, sau cuộc đời dương gian này, chúng ta sẽ được diễm phúc về thiên đàng, được diện kiến tôn nhan Thiên, được gặp gỡ Đức Maria, các thiên thần, các thánh và tổ tiên ông bà chúng ta.
Nhưng! Bạn thân mến, khi nhìn xem lại cuộc đời mỗi người chúng ta, ta thấy rằng vì muốn thỏa mãn nhu cầu vật chất, tiền tài, tình yêu, thành công hay danh vọng mà ta phải vất cả từ sáng đến tối. Vì muốn thỏa mãn các nhu cầu trước mắt cho bản thân và gia đình mà ta phải rời xa miền thôn quê lên thành thị, thậm chí rời xa quê hương đất nước để đến một nơi xa quần quật làm ăn. Nhưng chính vì bận rộn mà nhiều lúc ta lai bỏ quên Thiên Chúa, không để ý và chăm sóc đến nhu cầu thiêng liêng của chính mình.
Có bao giờ bạn dừng lại một vài phút giây và suy nghĩ tại sao mình lại bận rộn như vậy? Khi mình đi tìm những thỏa mãn trần thế thì linh hồn mình được cái gì? Khi thỏa mãn được rồi bạn có cảm thấy được bình an trong tâm hồn, có cảm thấy mình được yêu thương như ban đầu không? Có bao giờ bạn nghĩ rằng mình làm việc là làm cho Chúa, và làm cùng Chúa không? Có bao giờ bạn tâm niệm rằng mình vất vả làm việc là để cho Danh Chúa được rạng ngời nơi công việc của mình không? Có bao giờ trước khi làm việc bạn đọc kinh “Sáng Soi” để xin Chúa soi sáng cho bạn từ khởi sự cho đến hoàn thành đều nhờ bởi ơn Chúa không? Mời bạn hãy đọc lời Chúa Giêsu đã từng nói với bạn theo ghi chép của thánh Gioan: “Ai tin vào Thầy, thì người đó cũng sẽ làm được những việc Thầy làm. Người đó còn làm những việc lớn hơn nữa.” (Ga 12, 12)
Vâng, chúng ta là những người đặt niềm tin vào Chúa. Chúng ta là những người muốn trở nên giống như Chúa. Hãy chăm lo làm việc để đạt những nhu cầu cần thiết cho ta, cho gia đình, cho xã hội và cho giáo hội. Chỉ có một điều ta cần bổ sung và xác tín, đó là khi làm bất cứ điều gì ta nên làm vì nhân danh Chúa. Chính Đức Giêsu luôn tìm cách giúp các môn đệ và những ai theo Ngài nhận biết Chúa Cha, thì chúng ta cũng luôn cố gắng để trong mọi lời nói và hành động của mình luôn có “gen” của Giêsu.  
Tóm lại, mục đích cuối cùng của cuộc sống của ta không chỉ nhằm để đạt được các nhu cầu của thế gian này mà thôi, nhưng còn luôn cố gắng hướng tới một cuộc sống mai hậu. Đó là sự khác biệt giữa người có niềm tin và người không có niềm tin. Đó là giá trị của việc loan báo Tin Mừng bằng đời sống, vì: “Cứ dấu này, thì mọi người sẽ nhận biết anh em là môn đệ thầy.” (Ga 13, 35).  Hãy biết cân bằng cuộc sống của bạn và thực thi những gì Chúa dạy. Hãy năng cầu nguyện, tham dự các bí tích và đọc Lời Chúa. Hãy xác tín Chúa là đường, là sự thật và là sự sống của đời sống của bạn, vì đó là niềm hạnh phúc đích thực của đời bạn. Vì chính Chúa đã hứa: “Nếu anh em thực hành, thì thật phúc cho anh em” (Gioan 13, 17).
Lm. Antôn Phạm Trọng Quang, SVD
CHÚA NHẬT V PHỤC SINH NĂM A Gioan 14, 1-12.


30.3.20

COVID-19 VÀ TÌNH YÊU CỦA MUỐI


COVID-19 VÀ CÂU CHUYỆN TÌNH YÊU CỦA MUỐI




Khi tình hình đại dịch Covid-19 trở nên nghiêm trọng, khi tin tức nước Mỹ là nước đứng đầu về con số ca nhiễm bệnh truyền đi khắp nơi, tôi bắt đầu nhận được nhiều tin nhắn và điện thoại thăm hỏi và quan tâm cùng với sự cầu nguyện từ người thân và bạn bè. Tôi báo tin cho mọi người rằng, tạ ơn Chúa, tôi đang sống trong một nơi rất an toàn tại cộng đoàn dòng Ngôi Lời thuộc thủ đô nước Mỹ Washington DC. Đây là nơi có ít người nhiễm bệnh so với New York và các bang khác. Tuy nhiên, để bảo đảm sự an toàn, đã hơn hai tuần nay chúng tôi dừng mọi sinh hoạt bên ngoài, tất cả đều diễn ra trong cộng đoàn, việc học đã bắt đầu bằng trực tuyến.

Nghe vậy ai nấy đều cảm thấy yên tâm, tuy nhiên nhiều người cũng nhắc tôi phải cẩn thận, đặc biệt có nhiều người bảo tôi phải ngậm nước muối hằng ngày vì nước muối có khả năng diệt virus corona. Tôi không phải là nhà khoa học, cũng không phải là bác sĩ để đưa ra lời phán đoán, mà  chỉ nghe theo và thực hiện việc súc miệng bằng nước muối hằng ngày, trước hết để cám ơn những ai đã dành sự quan tâm cho tôi, và cũng để bảo vệ sức khỏe của mình.

Nhân chuyện súc miệng nước muối, tôi nhớ một câu chuyện cổ tích tôi nghe từ lúc còn nhỏ. Chuyện kể rằng, ngày xửa ngày xưa, có một vị vua sinh được ba nàng công chúa xinh đẹp. Thật chẳng may, hoàng hậu lâm trọng bệnh và qua đời khi ba nàng công chúa ấy còn rất nhỏ. Tuy hoàng hậu mất sớm, nhà vua vẫn không lấy hoàng hậu khác, mà ở vậy một mình nuôi dạy ba cô con gái lớn khôn bằng tất cả tình yêu thương của mình.

Một hôm, khi các cô công chúa xinh đẹp đã lớn, vị vua kia cho gọi họ đến để hỏi xem tình yêu họ dành cho vua như thế nào, vua hỏi: “Các công chúa xinh đẹp của cha, các con hãy nói cho cha biết các con yêu cha như thế nào?”

Cô gái thứ nhất đến thưa với vua cha bằng một giọng nói hết sức ngọt ngào: “Thưa cha, tình yêu con dành cho cha ngọt như mật ong ạ.” Vua cha rất vui, hiền bảo cô công chúa: “Con thật có phúc, vì đã dành cho cha thứ tình yêu ngọt ngào như mật ong vậy. Cha sẽ cầu xin Chúa trời chúc phúc cho con.” công chúa thứ hai đến, cũng với giọng nói dịu dàng thưa với vua cha: “Tình yêu của con dành cho cha ngọt như vị đường vậy.” Đức vua cũng vui vẻ khen con gái khôn ngoan và chúc lành cho cô.

Rồi đến lượt cô con út, cô hơi bối rối, vì tất cả những lời đường mật các chị đã nói hết cho vua cha. Nhưng từ xưa tới nay tình thương của cô dành cho vua cha vẫn rất chân thật, và mặc dầu hơi e thẹn nhưng cô cũng can đảm tiến lên thưa với vua cha: “Dạ, tình yêu của con dành cho cha như vị mặn của muối trong thức ăn ạ.” Nghe vậy, hai chị của cô phá lên cười; còn vua cha thì nổi giận và quát: “Tại sao con lại không nói được lời ngọt ngào như hai chị của con? Bao nhiêu năm cha dành tình thương cho con, giờ này con dám đối xử với cha như thế? Hãy đi sa ra khỏi ta với thứ muối của con.”

Khi công chúa nhỏ thấy vua cha tức giận vì lời nói không ngọt ngào nhưng chân thật của mình, một lần nữa cô cũng lấy hết can đảm để xin lỗi vua cha: “Hãy tha thứ cho con, con không cố ý mang lại nỗi buồn cho cha. Xin cha hiểu tình yêu của con dành cho cha cũng giống như các chị” Nghe vậy, nhà vua càng tức giận, quát mắng: “Sao con dám so sánh tình yêu của con với các chị được?” Rồi ông đuổi cô ra khỏi hoàng cung.

Bị đuổi ra khỏi cung điện, công chúa út hết sức buồn bã, cô chỉ kịp lấy vài thứ cần thiết cho mình rồi lủi thủi ra đi. Công chúa đi xa thật xa, tới một nơi mà cô không hề biết đấy là chỗ nào. Qua một vương quốc khác, cô mệt nhoài và đói lả, ngồi nghỉ ở cổng một cung điện rồi cô ngủ thiếp đi. May thay, người giúp việc trong cung điện phát hiện, thấy cô tiều tụy, liền dẫn vào phía trong nhà bếp để chăm sóc và nhận làm người giúp việc cho bà.

Từ ngày vào hoàng cung, cô bắt đầu học nhào bột, làm thức ăn và làm việc với mọi người rất vui vẻ. Vì vậy cô được mọi người trong cung điện yêu quý, đến nỗi chẳng ai chê trách công chúa một điều gì. Tiếng lành đồn xa, sự chăm chỉ của nàng đã truyền đến tai của hoàng hậu, rồi hoàng hậu chọn cô làm người hầu cho mình. Chính nhờ vậy mà cô có dịp gặp hoàng tử trong cung, nhất là chăm sóc cho chàng khi chàng bị thương sau một trận chiến nọ. Hoàng tử bắt đầu yêu mến cô và trình với vua cha và hoàng hậu rằng chàng muốn cưới cô làm vợ.

Sau khi cân nhắc cẩn thận, nhà vua và hoàng hậu đồng ý để hoàng tử kết hôn với công chúa nhỏ. Hôn lễ của họ được tổ chức rất linh đình, khách mời đến cả những nước lân cận, trong đó có vị vua cha của công chúa.

Trong tiệc cưới, khách mời được thưởng thức mọi thứ thức ăn ngon và khoái khẩu. Ai nấy đều vui mừng, nhưng vị vua cha của công chúa khi ăn các món ăn mà công chúa chuẩn bị riêng cho ông, thì vua đùng đùng nổi giận, ông quát: “Sao món gì cũng nhạt như thế?” Lúc này công chúa nhỏ tiến lại gần nhà vua và dịu dàng thưa: “Thưa đức vua, vì các món ăn của ngài chỉ được gia vị bằng vị ngọt của mật ong và của đường, rất tiếc chúng thiếu đi vị mặn của muối mà ngài đã không ưa thích và từ chối ạ.”

Nghe vậy, nhà vua liền nhận ra tân nương ngày hôm đó chính là con gái út của mình. Ông cũng nhận ra rằng, vì giận giữ mà ông đã đánh mất đứa con gái xinh đẹp và thật thà của mình. Ông tự trách mình và mong được cô con gái tha thứ.

Bạn thân mến, câu chuyện trên đây giúp ta học được một bài học rất sâu sắc, đó là cuộc đời của ta thường bị lôi cuốn và hấp dẫn bởi những thứ nghe rất hấp dẫn nhưng thật chóng qua như tiền bạc, bằng cấp, danh vọng, tương quan xã hội, mà quên đi một thứ rất cần thiết đó là sức khỏe của ta. Qua đại dịch covid-19 này, ta chứng kiến có hàng trăm ngàn người nhiễm bệnh và hằng chục ngàn người bị cướp đi tính mạng, ta mới phát hiện ra sức khỏe là một phần rất quan trọng mà xưa nay ta thường lãng quên. Mạng sống của ta là món quà Thiên Chúa ban cho, ta cần biết tạ ơn Ngài, trân quý và bảo vệ món quà này nhiều hơn. Nhiều tiền, danh vọng cao sang, hay bạn bè đông đúc mà đánh mất sức khỏe thì những thứ đó chẳng có nghĩa gì. Mất đi sức khỏe là ta mất đi tất cả, hay khi có sức khỏe là ta làm nên tất cả.

Câu chuyện này cũng giúp ta hiểu được tầm quan trọng của món quà thiêng liêng mà Chúa ban cho nhiều người chúng ta, đó là ĐỨC TIN. Khi đứng trước tình hình đại dịch Covid-19, chắc chắn ai trong chúng ta cũng cảm thấy hoang mang và lo sợ. Riêng cá nhân tôi, tôi cũng đã trải qua những giây phút lo sợ như vậy, nhất là đã hai tháng nay tôi xem tin tức về dịch bệnh từ Trung Quốc, Đài Loan, Nhật Bản, Hàn Quốc và thế giới.

Tôi luôn cầu nguyện cho bệnh dịch nhanh chấm dứt. Nhưng rồi dịch bệnh đã đến ngay trên nước Hoa Kỳ, thậm chí chỉ trong mấy ngày này nó lan truyền khắp mọi tiểu bang. Tôi cảm thấy sự nguy hiểm đã đến rất gần. Như lời của Đức Thánh Cha Phanxicô trong bài giảng của giờ cầu nguyện và ban phép lành Urbi et Orbi hôm 27 tháng 3, rằng: “Những bóng đen dầy đặc phủ trên các quảng trường, các đường phố và thành thị của chúng ta; chúng chiếm hữu cuộc sống chúng ta, làm đầy mọi sự bằng một sự im lặng gây choáng váng và một sự trống rỗng thê lương, làm tê liệt mọi sự khi nó đi qua.” (Vatican News 27/3/20) Vâng, chúng ta đang ở trên cùng một con thuyền, tất cả đều mong manh và mất hướng, (Vatican News 27/3/20)  chúng ta đang đối diện với sự lo sợ bị lây nhiễm căn bệnh Covid-19, thậm chí ta đang đối diện với cái chết chứ không phải ai khác. Bệnh dịch và cái chết đang đến rất gần.

Thật vậy, “Tình Yêu Của Muối” trong chuyện cổ tích được ví như đức tin của ta. Đức tin đóng vai trò rất quan trọng trong đời sống của ta. Như vị vua kia, vì thích nghe những lời đường mật giả tạo mà quên lời nói không mấy dễ nghe nhưng rất chân thành của cô công chúa nhỏ, nhiều lúc ta cung thích chọn lựa những sinh hoạt vui chơi, những cuộc hội tụ bạn bè để ăn uống, hò hét và giải trí mà bỏ quên hoặc từ chối tham dự thánh lễ hay các giờ kinh nguyện. Nhưng trong những lúc gian truân thế này, ta mới cảm nghiệm được vai trò của đức tin, nó giúp ta vượt qua nỗi sợ hãi và cảm giác hoang mang. Những giờ kinh nguyện, những bài thánh ca, đã giúp ta có được sự bình an và nhất là có được những giấc ngủ ngon mà nhiều người không có đức tin không được tận hưởng.

Bởi thế, tôi xin mượn lời Đức Thánh Cha Phanxicô để tiếp tục mời gọi mọi người: “Hãy phó thác cho Chúa những lo sợ của chúng ta để Ngài chiến thắng chúng. Vì sức mạnh của Thiên Chúa là: tất cả những gì xảy ra cho chúng ta, cả những điều bất hạnh, đều mưu ích cho chúng ta. Chúa đưa sự thanh thản vào trong những bão tố của chúng ta, vì với Thiên Chúa, sự sống sẽ không bao giờ chết.” (Vatican News 27/3/20)

Washington DC, ngày 29/3/2020
Lm Antôn Phạm Trọng Quang, SVD

21.3.20

ĐỜI KHÔNG THỂ CỨ BẠC NHƯ VÔI



ĐỜI KHÔNG THỂ CỨ BẠC NHƯ VÔI

Nhiều người phàn nàn: “sao số mình thật là xui xẻo.” Người khác lại nói: “Sao mình cứ phải chịu đựng nhiều đau khổ thế?” Thậm chí có người mất lòng tin vào chính mình khi nói: “đời đúng là bạc như vôi, làm cái gì cũng thấy vất vả và chẳng thấy thành công.”

Không, tôi không nghĩ như vậy! Đời không thể bao giờ cũng bạc như vôi. Cuộc đời không thể bao giờ cũng gặp xui xẻo mà sẽ có những ngày gặp may. Người đời thường nói: “sông có khúc, người có lúc” mà. Chính vì thế mà, cuộc đời có vất vả, hay xui xẻo thế nào đi chăng nữa cũng có ngày nó sẽ qua đi, điều quan trọng là mình học được điều gì khi cuộc đời gặp phong ba.

Cách đây mấy năm, nhân có Đại Hội Giới Trẻ Công Giáo Thế Giới tại Ba Lan, có mấy bạn trẻ từ Việt Nam đăng ký đi làm tình nguyện viên cho Đại Hội. Theo yêu cầu của Ban tổ chức, trước đại hội, các tình nguyện viên phải có mặt nơi tổ chức trước mấy ngày để tham gia chương trình tập huấn. Thật không may cho một bạn trong nhóm; trong thời gian tập huấn, một hôm bạn ấy cảm thấy đau nơi gót chân, rồi đi khám bác sĩ, chụp X-ray mới phát hiện xương gót chân bị nứt. Bạn đó cảm thấy rất buồn, vì khi các bạn tình nguyện viên khác đi phục vụ, họ được gặp nhiều bạn trẻ đến từ khắp Năm Châu, đặc biệt là được chính mắt thấy Đức Thánh Cha, còn bạn ấy phải ngồi ở nhà trọ xem tivi.

Thế nhưng, ngày cuối cùng của Đại Hội, Đức thánh cha gặp gỡ các bạn tình nguyện viên ở một nhà thi đấu thể thao để cám ơn những hy sinh và đóng góp lớn lao của họ. Buổi chiều hôm đó, mấy bạn trong nhóm cũng dẫn bạn ấy đi tham dự. Thật kỳ diệu, hôm đó hàng chục ngàn tình nguyện viên trong nhà thi đấu, nhưng Ban tổ chức thấy bạn ấy ngồi xe lăn nên sắp xếp cho bạn lên phía trước để gặp Đức Thánh Cha. Thoạt đầu bị nứt gót chân bạn ấy cảm thấy thật xui xẻo và hết sức đau khổ, nhưng không ngờ, khi được bắt tay Đức Thánh Cha và được ngài chúc lành thì bạn ấy cảm thấy thật là hạnh phúc.

Một ví dụ nữa đó là câu chuyện của ông Đavít. Khi Thiên Chúa sai tiên tri Samuel đến nhà ông Isai thân phụ của Đavít để chọn một người con của ông làm vua. Kinh Thánh kể rằng, khi Samuel đến nơi, ông Isai dẫn các anh của Đavít, những anh chàng to cao đẹp trai ra giới thiệu, nhưng những người này không phải là người Chúa chọn.

Tuy Kinh Thánh không nói thêm về cảm xúc của ông Đavít, nhưng ta cũng dễ hiểu, rằng hôm đó ông rất buồn, vì cả nhà của ông ai nấy đều có mặt ở nhà để đón tiên tri Samuel. Nhất là với các anh của Đavít, ai cũng mong mình được chọn để làm vua; còn Đavít, ông lủi thủi ngoài đồng một mình với đoàn động vật. Nhưng thật may thay, vì Thiên Chúa không chọn những ai diện mạo cao to, trai tráng, mà Ngài chọn những ai đơn sơ và có lòng kính sợ Thiên Chúa. Kinh Thánh có kể rằng, tiên tri Samuel sau đó cho gọi Đavít về và lấy bình dầu ra, xức lên đầu ông trước mặt anh em, và Thánh Thần ngự trong Đavít từ ngày đó trở đi. (x.1Sm 16:1-13)

Bạn thân mến, những câu chuyện trên giúp chúng ta dám khẳng định rằng cuộc đời không phải lúc nào cũng bạc như vôi. Ngược lại đời người có lúc trầm lúc bổng, đời người có lúc gặp éo le, nhưng có lúc cũng tràn đầy hạnh phúc. Dĩ nhiên, để vượt qua những rủi ro, bất hạnh và tìm được niềm hạnh phúc thì ta phải chuẩn bị cho mình những thái độ sau đây:

BÌNH TĨNH

Khi ta gặp khó khăn hoặc đau khổ, ta thường nghe người khác khuyên: “đừng buồn” hay “đừng phàn nàn làm chi”. Tuy nhiên, tôi không thích khuyên người khác như vậy, vì tôi cho rằng, lo lắng, đau buồn, thất vọng, thậm chí phàn nàn là phản ứng rất tự nhiên của ta. Đã là con người, khi gặp chuyện buồn thì ai cũng có “quyền” phản ứng hơi tiêu cực như thế, thậm chí nếu ta muốn khóc thì cứ để cho nước mắt nó rơi. Tôi tin rằng, khóc sẽ giúp ta cảm thấy dễ chịu hơn, thoải mái hơn. Nhưng có buồn, có khóc thì ta nên tập cho mình một tính đức tính bình tĩnh để ta hiểu được tại sao những điều không may đó lại xảy ra cho mình và ta biết làm gì để đối diện với nó.

KIÊN NHẪN

Có thể khi ta lo lắng, ta buồn hay ta khóc, là vì ta thấy những nghịch cảnh đó đến quá bất ngờ. Thậm chí khi ta thấy bất công, hay ta cảm thấy nó ngoài sức chịu đựng của ta, là vì ta chưa tìm ra được phương cách giải quyết tốt nhất cho vấn đề. Nhưng điều quan trọng là chúng ta cần tập cho mình tính kiên nhẫn và chịu đựng. Khi ta biết chịu đựng, ta sẽ nghiệm được một bài học quý báu rằng, nghịch cảnh của cuộc đời là cơ hội để thanh luyện tính khí và sự trưởng thành của ta. Câu chuyện anh chàng người mù trong Tin Mừng Thánh Gioan chương 9 là một một ví dụ điển hình. Trước khi anh được Chúa chữa lành đôi con mắt để anh được thấy và đi lại, thì mọi người bắt đầu nghi ngờ anh, họ tò mò soi mói anh, nhưng anh đã kiên nhẫn vượt qua những khó khăn và thách đố đó để tuyên bố rằng: “Chính tôi là người mù ăn xin tại cổng thành.” (Ga 9, 9) Quả thật, thử thách càng lớn thì đức ta càng trở nên vững mạnh.

LẠC QUAN

Lạc quan hay hy vọng là thái độ rất cần thiết khi ta gặp khó khăn. Một thực tế đáng chú ý đến, đó là khi gặp khó khăn, ta thường mất niềm tin, hoặc dễ đổ lỗi cho người này người kia. Nhưng ngay đến môn đệ của Chúa cũng vậy, khi thấy người mù ngồi ăn xin nơi vỉa hè, họ còn hỏi Chúa: “Thưa Thầy, ai đã phạm tội, anh này hay cha mẹ của anh ta, khiến anh mù từ khi mới sinh?” (Ga 9, 2) Chúa mới trả lời: “Không phải tại anh, mà cũng phải tại cha mẹ anh đã phạm tội, nhưng đây là lúc để công việc của Thiên Chúa được tỏ ra nơi anh.” (Ga 9, 3)

Có được tinh thần lạc quan, thì khi cuộc đời gặp lúc phong ba, ta không trách người hay trách mình, cũng không trách Chúa, nhưng là lúc ta học được cách trông cậy vào Chúa, là lúc ta làm sáng Danh Ngài. Quả thực Chúa không bao giờ bỏ ta bơ vơ, nhưng Ngài luôn ban ơn dồi dào cho ta để ta vượt qua những khó khăn và thử thách của cuộc đời. Trở lại câu chuyện của anh người mù, khi người Pharisiêu đuổi anh ra ngoài, thì Chúa xuất hiện để trấn an tinh thần cho anh, Ngài hỏi anh: “Anh có tin tôi không?” (Ga 9, 37). Trước mặt mọi người, anh không hề sợ hãi mà dõng dặc tuyên bố: “Thưa ngài tôi tin.” Rồi anh sấp mình xướng trước mặt Người. (Ga 9, 38)

Bạn thân mến, những tuần lễ gần đây, chúng ta đang sống trong lo âu và hốt hoảng về đại dịch Covid-19. Chúng ta đang lo lắng cho sức khỏe của chúng ta, cho gia đình và bạn bè của chúng ta, mong sao cho mọi người thoát cơn dịch bệnh. Thật vậy, đau khổ, bệnh tật hay nghịch cảnh cuộc đời, ít hay nhiều làm cho ta lo lắng và đau buồn, nhưng khi có được sự bình tĩnh, kiên nhẫn và lạc quan, thì sẽ giúp ta vượt qua, thậm chí còn học được cách trưởng thành và đặt niềm tin vào tương lai của mình. Hơn nữa, hãy trông cậy vào Chúa thì Ngài sẽ giúp đỡ ta, Ngài sẽ thay đổi cuộc đời của ta.  Và như thế, dịch bệnh sẽ qua đi và cuộc đời của ta không phải lúc nào cũng bạc như vôi, nhưng có lúc sẽ sáng chói như mặt trời.

Xin Thiên Chúa chúc lành và ban nhiều niềm tin cũng như sự bằng an cho chúng ta.

Lm. Antôn Phạm Trọng Quang, SVD

Bài đăng trên trang NGƯỜI NỮ TỲ KỂ CHUYỆN
https://www.facebook.com/acinuty/

10.2.20

RỬA TAY: TỪ DIỆT KHUẨN ĐẾN THANH TẨY TÂM HỒN


RỬA TAY: TỪ DIỆT KHUẨN ĐẾN THANH TẨY TÂM HỒN
Cả thế giới hiện nay đang sống trong lo sợ vì dịch viêm phổi đường hô hấp do virus corona gây nên. Dịch bệnh này được xác định xuất phát từ thành phố Vũ Hán, Trung Quốc hồi tháng 12 năm 2019, hiện nay đã lan sang 26 quốc gia và vùng lãnh thổ trên thế giới. Theo thống kê của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO), tính đến ngày 9 tháng 2 năm 2020, số ca nhiễm bệnh đã tăng lên hơn 37.552 người, trong đó có 813 đã chết, và số lượng người được chữa khỏi bệnh chiếm tỷ lệ rất thấp. (Vnexpress)
Để đối phó với việc lan truyền của dịch bệnh, Trung Quốc đã đóng cửa hàng chục thành phố, bắt đầu từ thành phố Vũ Hán, Hồ Bắc, Hoàng Cương... Nhiều hãng hàng không nước ngoài ngừng các chuyến bay qua lại với Trung Quốc. Đồng thời nhiều quốc gia cũng đóng cửa khẩu với Trung Quốc, để ngừng tiếp nhận hành khách đến từ đất nước đang đối diện với đại dịch này. Nhiều công nhân của các nước đang tìm cách chạy khỏi Trung Quốc dù biết rằng khi trở về họ sẽ bị phải cách ly ít nhất 14 ngày để theo dõi.
Một điều đáng chú ý khiến tôi đi đến ý định viết bài này, đó là, để tránh việc lây bệnh, các cơ sở y tế khuyến cáo mọi người nên thường xuyên rửa tay để diệt trừ virus và tránh gây nhiễm bệnh cho chính mình và cho người khác. Ở trường học của tôi, nhà trường đã trang bị thêm nhiều chai nước rửa tay và gửi thông tin nhắc nhở sinh viên và giáo sư rửa tay khi vào phòng học, vào thư viện và nhất là vào các căng tin dùng bữa. Quả thật, việc khuyên người dân rửa tay để tránh truyền bệnh là việc làm rất cấp bách và chính đáng, nhất là trong khi bệnh phổi đang lây lan. Riêng với tôi, đây cũng là cơ hội hợp lý để suy tư và chia sẻ chút ý nghĩa tôn giáo và đạo đức trong việc rửa tay.

RỬA TAY VÀ VIỆC THANH TẨY TÂM HỒN
Trong nghi thức thánh lễ, trước khi linh mục cử hành nghi thức truyền phép, các ngài đều thực hiện nghi thức rửa tay. Nghi thức này chỉ là một động tác rất đơn giản, nhưng có ý nghĩa rất linh thiêng, như trong  Quy Chế Tổng Quát Sách Lễ Rôma, số 76” phần chữ đỏ giải thích rằng : “Sau đó, vị tư tế rửa tay bên cạnh bàn thờ: nghi thức này biểu lộ lòng ước ao được thanh tẩy trong tâm hồn.

Cụ thể, lúc rửa tay, chủ tế đọc một lời nguyện rằng:Lạy Chúa, xin rửa con sạch hết mọi lỗi lầm; tội con đã phạm, xin Ngài thanh tẩy. Như thế, nghi thức rửa tay này không chỉ để làm cho tay linh mục được sạch trước khi chạm vào Mình Thánh Chúa như nhiều người thường giải thích, nhưng nó trở thành một dấu hiệu của việc thanh tẩy nội tâm. Các tư tế cầu xin Chúa thánh hóa tâm hồn mình, để tâm hồn được trong sạch khi cứ hành nghi thức cực thánh này.
Và khi nhắc đến nghi thức rửa tay, chúng ta nghĩ đến nước. Nước, hiển nhiên được dùng để tẩy rửa và làm cho vật được rửa trở nên trong sạch. Nước, cũng mang một ý nghĩa sâu xa khác, đó là nó mang lại sự sống cho con người và sinh vật. Đặc biệt trong đức tin Kitô giáo, nước là hình ảnh gợi nhớ đến Bí tích Rửa Tội, Bí tích mà người lãnh nhận được rửa sạch hết mọi tội lỗi, trở nên tinh tuyền và được làm con Thiên Chúa. Nhất là sau khi được lãnh nhận Bí tích thanh tẩy, người lãnh nhận được sống với tinh thần mới và quả tim mới, như lời của tiên tri Êdêkien nói:Ta sẽ rảy nước thanh sạch trên các ngươi và các ngươi sẽ được thanh sạch. Ta sẽ ban tặng các ngươi một quả tim mới, sẽ đặt thần khí mới vào lòng các ngươi.” (Ed 36, 25-26)
Ngày nay, mỗi lần vào nhà thờ chúng ta thường thấy có hai chén nước được chuẩn bị hai bên cửa vào nhà thờ, để khi đi vào giáo dân chấm một it nước rồi vẽ hình thánh giá lên trán. Theo sử liệu, truyền thống này đã có từ thế kỷ thứ VI, khi các đan sĩ dòng Thánh Biển Đức phải rửa tay trước khi vào nhà thờ cầu nguyện và tham dự thánh lễ. Các tín hữu sau đó cũng học hỏi việc làm này, họ bắt đầu thực hiện việc rửa tay trước khi vào nhà thờ để tỏ hiện sự tôn kính Thiên Chúa. Và rồi, nghi thức đã được đơn giản hóa, là khi vào nhà thờ, giáo dân chỉ có việc đưa tay chấm nước thánh, vẽ lên trán và xin Chúa thánh hóa tâm hồn của mình. Truyền thống này được tiếp tục cho tới ngày nay.
Như vậy, việc thanh tẩy tâm hồn, hay việc sám hối ăn năn trở thành một phần rất quan trọng của mỗi một chúng ta. Hơn nữa trong mọi lúc và mọi nơi, con người chúng ta cần biết “tẩy rửa” tâm hồn mình để xứng đáng làm con cái Thiên Chúa. Giống như trong bức thư của Đức tổng Giám mục Sài Gòn gửi cho quí cha, quí tu sĩ, chủng sinh và toàn thể giáo dân trong Tổng giáo phận, trước những sợ hãi và đau khổ của đại dịch dịch bệnh virus corona, Đức Cha Giuse Nguyễn Năng nhắc nhở giáo dân: Tất cả những đau khổ của nhân loại đều bắt nguồn từ căn nguyên sâu xa là tội lỗi. Chính vì thế, cùng với lời cầu nguyện, chúng ta cũng cần thực hiện việc đền tội, sám hối và thay đổi cuộc đời, để sống công chính và thánh thiện theo Phúc Âm.” (Trang thông tin Tổng Giáo phận Sài Gòn)
Thật là đáng kính phục, khi dịch bệnh viêm phổi đường hô hấp do virus corona đang hoành hành, các chính trị gia tìm cách bóp méo sự thật, che dấu sự yếu kém của mình, đồng thời tìm cách tuyên truyền về đảng phái và phe nhóm của mình. Ngược lại, Đức Tổng Giám Mục của chúng ta kêu gọi mọi người, ngoài việc cầu nguyện cho các bệnh nhân, nên khiêm tốn phản tỉnh về thái độ sống và những thiếu sót của mình để được Thiên Chúa thứ tha, đồng thời để canh tân tâm hồn chúng ta.
THANH TẨY TÂM HỒN VÀ GIA TĂNG VIỆC BÁC ÁI.
Một thực tế đáng buồn nữa, đó là trong khi bệnh dịch virus corona đang lan truyền một cách đáng sợ, khi người dân được khuyến cáo ngoài việc thường xuyên rửa tay ra, khi đi ra đường mọi người cần đeo khẩu trang, thì có nhiều cá nhân đã lợi dụng cơ hội này để kiếm lợi. Họ đã đẩy giá khẩu trang lên, khiến người mua phải ngậm ngùi trả một số tiền cao hơn nhiều so với giá bình thường.
Còn nhớ, khi học về Phật giáo, tôi đọc đâu đó tư tưởng của một vị Pháp Sư, rằng: “Chức năng cao nhất của đôi tay là giữ gìn chính pháp của Như Lai (danh xưng khác của Đức Phật). Mọi người hãy dùng đôi tay của mình để bố thí, cúng dường, giúp người, giúp đời, làm Phật sự. Như thế, bàn tay này được dùng để nhằm chia sẻ tình thương và nhằm mang lại nhiều lợi lạc cho nhân gian.
Khi có nhiều lúc con người không biết dùng đôi tay của mình để làm việc thiện, hay nói theo ngôn ngữ nhà Phật là đã có nhiều quãng đời vi phạm Phật pháp, thì Đức Phật dạy: “thay vì trừng phạt bàn tay thì hãy rửa tâm; vì khi tâm thanh tịnh, bàn tay sẽ hướng về việc lành.” Vì thế, nếu có ai đó trước đây đã dùng đôi tay của mình để vơ vét kiếm lợi trên sự đau khổ của người khác, thì hãy “thanh tẩy” đôi tay của mình bằng những việc làm thanh sạch, bằng việc làm bác ái. Một khi chúng ta thay đổi được cái tâm của mình là chúng ta sẽ thay đổi các hành động của chúng ta.
Chúng ta thực sự vui mừng, vì mấy ngày gần đây, khi nhiều cơ sở y tế ở Việt Nam và nhiều nước khác đang đẩy giá khẩu trang lên cao, thì có nhiều hội từ thiện, nhiều cộng đoàn tu sĩ và nhiều nhóm bạn trẻ ở Viêt Nam đã tổ chức chương trình phát khẩu trang miễn phí cho người dùng. Hay như tin từ “Thời báo Hoàn cầu”, để hỗ trợ cho Trung Quốc trong việc chống đại dịch, hôm 27 tháng 1 năm 2020, Tòa thánh Vatican và các cộng đoàn Công giáo tại Ý đã hỗ trợ cho Trung Quốc khoảng 600.000 đến 700.000 khẩu trang. Đây là những việc làm rất thiết thực, đây là những hành động rất đáng khen ngợi, vì tất cả chúng nói lên tình bác ái giữa con người với nhau.  
Để kết thúc bài chia sẻ nay, tôi xin mượn lời của Đức Tổng Giám mục Giuse Nguyễn Năng khi ngài khuyên các linh mục, tu sĩ, tu sinh và cộng đoàn tín hữu của mình: Chúng ta cũng hãy cầu nguyện cho cộng đồng nhân loại biết yêu thương nhau, quảng đại hy sinh giúp đỡ nhau trong những giờ phút khó khăn, đừng vì tham lam ích kỷ mà trục lợi trên sự đau khổ của tha nhân. (Trang thông tin Tổng Giáo phận Sài Gòn).
Không bao giờ hết, lúc này đây mọi người chúng ta không chỉ biết thường xuyên rửa tay để diệt vi khuẩn mà còn biết “rửa lòng” để tâm hồn chúng ta được trở nên trong sạch, hầu có động lực thực thi nhiều việc bác ái, nhằm mang lại ích lợi cho anh chị em chúng ta. 
Ngày 9 tháng 2 năm 2020
Lm. Antôn Phạm Trong Quang, SVD


3.2.20

LINH MỤC TỰ TỬ VÀ ĐÔI ĐIỀU SUY GẪM




Trong giờ cơm tối, một anh em linh mục trong dòng chia sẻ một thông tin chẳng tốt lành chút nào, đó là thông tin về một vị linh mục trẻ thuộc giáo phận Kansas City, bang Missouri, Hoa Kỳ tự tử khi tuổi đời mới có 34. Phản ứng của các anh em trong cộng đoàn là lặng đi trong chốc lát, rồi có nhiều câu nói phản hồi: “Lý do tại sao vậy?” “Sao lại như thế được nhỉ?” “Thương quá, một linh mục trẻ.”

Vâng, tin tức về một ai đó tự kết liễu cuộc đời của mình thường làm “chấn động” lòng người, nhất là tin một linh mục tự kết thúc cuộc đời mình lại càng khiến cho không chỉ có gia đình, người thân và giáo dân của ngài đau đớn mà khiến bao nhiêu người khác không khỏi bàng hoàng và thắc mắc.

Hôm qua thầy hiệu trưởng của trường đại học Công Giáo Hoa Kỳ cũng báo tin buồn này và xin mọi người cầu nguyện cho vị linh mục trẻ ấy, vì ngài đã từng tốt nghiệp khoa Giáo luật tại trường. Trên lớp tin tức này lại được thảo luận rất nhiều, thậm chí có nhiều câu hỏi cũng được mấy bạn là giáo dân đặt ra: “Là một linh mục tại sao ngài lại có lựa chọn tiêu cực như thế?” “Chẳng phải linh mục này học giáo luật, mà không biết Giáo hội phản đối tự tử sao?” Tôi lắng nghe và suy gẫm rất nhiều về những câu hỏi mà mọi người đặt ra. Và nhân tiện, hôm nay là Ngày Đời Sống Thánh Hiến, tôi mạo muội viết vài dòng chia sẻ để mọi người cùng suy nghĩ cầu nguyện.

TỰ SÁT, LỖI PHẠM NẶNG NỀ.

Vâng, nói đến vấn đề tự tử, đức tin của Giáo hội Công giáo dạy trong giáo luật số 2281, rằng:  Tự sát nghịch với khuynh hướng tự nhiên muốn bảo tồn và kéo dài sự sống của con người. Lỗi phạm nặng nề đến tình yêu chính đáng đối với bản thân. Đối với tác hại và ảnh hưởng của tự tử, điều luật này còn giải thích thêm: Tự sát còn xúc phạm đến tình yêu đối với người thân cận vì nó cắt đứt một cách bất công những mối dây liên đới với gia đình, quốc gia và nhân loại mà chúng ta có trách nhiệm.

Như thế, nếu xét theo giáo luật, việc tự sát của bất cứ người nào, không kể linh mục hay giáo dân, đều là “đối nghịch với tình yêu của Thiên Chúa hằng sống.” Tuy nhiên, cũng giống như nhiều người đặt câu hỏi: “tại sao vị linh mục trẻ này lại chọn cái chết?” hay “liệu người tự kết liễu đời mình có được rỗi linh hồn không?” Tôi cố gắng tìm thêm thông tin để biết tại sao ngài lại tự tử hay trước khi kết liễu đời mình, ngài có để lại hoặc viết ra lời trăn trối nào không, nhưng tôi không có được thông tin nào khác liên quan.

Quả nhiên, việc không cung cấp thêm thông tin là quyền của Giáo phận và gia đình ngài, hơn nữa việc xét đoán về phần rỗi của vị linh mục trẻ này cũng không phải là mục đích của bài viết, vì chúng ta không phải là quan án. Chúng ta biết rằng chỉ có Thiên Chúa mới có quyền phán xét trên mỗi con người. Bài này chỉ muốn nhấn mạnh một điều, rằng chúng ta cần tiếp tục hy vọng vào Chúa, vào tình thương và lòng từ bi của Ngài, vì giáo luật số 2283 còn dạy rằng: Ta không được tuyệt vọng về phần rỗi đời đời của những người tự tử. Thiên Chúa có thể thu xếp cho họ có cơ hội sám hối để được ơn tha thứ, bằng những đường lối mà chỉ một mình Người biết. Về phần chúng ta, cần tiếp tục cầu nguyện cho vị linh mục trẻ này, cho gia đình và giáo dân của ngài, hơn nữa giáo luật còn viết thêm: “Hội Thánh vẫn cầu nguyện cho những người hủy hoại mạng sống mình.

CẦU NGUYỆN VÌ SỰ MONG MANH CỦA KIẾP NGƯỜI

Thông tin về tự tử của linh mục này khiến tôi còn có thêm suy nghĩ, rằng sự sống con người thật là mong manh. Tất cả mọi người, kể cả các linh mục, đã là con người, sự sống của họ cũng rất mong manh. Vâng, các linh mục cũng là con người da trần mắt thịt, các linh mục cũng có “hỷ-nổ-ái-ố.” Tức là các ngài cũng có những biểu hiện về sự “vui mừng,” “phẫn nộ,” “yêu thương” và “ghen ghét” như bao nhiêu người đang có. Trên thực tế, các linh mục lại được kỳ vọng nhiều hơn so với những ai khác. Linh mục được kỳ vọng từ lời ăn tiếng nói đến hành động việc làm, sống làm sao để trở thành tấm gương cho nhiều người chung quanh noi theo. Hơn nữa, linh mục không được tỏ ra yếu đuối, đau buồn hay những biểu hiện tiêu cực nào khác trước mặt mọi người.

Thật là bất công, thời đại ngày hôm nay, các linh mục lại là đối tượng thường bị dò xét, thậm chí còn bị chê bai về khả năng ăn nói, khả năng giảng dạy hay nghệ thuật giao tiếp. Linh mục thời nay không chỉ được mời gọi chăm sóc đời sống tâm linh của các tín hữu, mà còn được giao cho quyền quản lý việc này việc kia, như việc dạy học, mục vụ bệnh viện, mục vụ quân đội, kiếm tiền để xây dựng giáo xứ và nhiều công việc mục vụ xã hội khác. Vì thế, có một thực tế không thể chối cãi, là linh mục thời nay không có nhiều thời gian để cầu nguyện và suy niệm Lời Chúa. Linh mục thời nay vì thế thường dễ mất quân bình trong hành xử, dễ bị hiểu nhầm và phải chịu nhiều áp lực trong đời sống mục vụ. Tóm lại, người ta coi linh mục như một chuyên gia hoặc người làm công trả lương, chứ ít thấy sự thánh thiêng trong sứ vụ của các ngài.

Linh mục ngày nay còn được truyền thông “quan tâm” và theo dõi sát sao để tìm cách phóng đại hoặc lên án những tương quan mà họ cho là “bất thường” của các ngài với nữ giới, với trẻ vị thành niên, thậm chí với cả nam giới. Vì những xoi mói này mà khiến các ngài phải giữ khoảng cách “an toàn tuyệt đối,” sống mất tự nhiên, thậm chí còn sợ hãi khi tiếp xúc với giáo dân. Bởi thế, linh mục thời nay có xu huống sống “nề nếp” nếu không muốn nói là khép kín với giáo dân. Sau thánh lễ, các ngài trở về phòng hoặc tránh né các giờ sinh hoạt có tính cộng đồng, thậm chí trong cách cư xử luôn tìm cách “làm đẹp lòng giáo dân” hay từ chối góp ý hay nói lên sự thật.

CẦU NGUYỆN KHI GẶP ÁP LỰC

Với tư cách là một linh mục, tôi hy vọng các anh em linh mục khác cũng cảm nghiệm được bài học, rằng chúng ta được mời gọi trở thành một linh mục, không nên sống chỉ để được người khác yêu thích hay được ưu ái cách riêng, mà sống là để làm chứng cho Thiên Chúa tình yêu. Tôi rất thích lời của Đức Hồng Y Beniamino Stella Tổng trưởng Bộ Giáo sĩ, khi trả lời Vatican News, ngài nói: “Thật ra, trong thực tế, trong Giáo hội, đại đa số các linh mục làm việc hiến dâng cuộc sống của họ cách quảng đại, sử dụng năng lực tốt nhất để loan báo Tin Mừng và chăm sóc dân Chúa, và dành thời gian cho những người có hoàn cảnh khó khăn, cho người trẻ, người già, các bệnh nhân, người nghèo.” (Vatican News 3/12/2019)

Lời của Đức Hồng Y Stella nhắn nhủ chúng ta, là tiếp tục làm việc trong khiêm tốn và quảng đại theo khả năng của mình. Nếu khi bị hiểu nhầm hay phải chịu nhiều áp lực, chúng ta cần tìm đến sự cầu nguyện. Vì cầu nguyện sẽ giúp chúng ta giảm bớt căng thẳng, cầu nguyện sẽ giúp cho thân thể, tâm trí và linh hồn chúng ta được vững mạnh trở lại, hầu giúp chúng ta tiếp tục hoàn tất sứ vụ mà Chúa dành cho chúng ta.

Là linh mục, chúng ta cần khiêm tốn cầu xin Chúa ban cho chúng ta ơn khôn ngoan để thấu hiểu được những yếu đuối và mỏng dòn của chúng ta, đồng thời cũng xin ơn can đảm để chúng ta chấp nhận những yếu đuối đó, nhằm thăng tiến đời sống chứng nhân của chúng ta. Không ai chối cãi, khi đức tin của chúng ta trở nên yếu đuối, khiến chúng ta càng trở nên sợ hãi, thất vọng và chán chường về sứ vụ của mình. Chúa muốn chúng ta tiếp tục giữ tương quan mật thiết với Ngài. Chúa muốn chúng ta luôn nhớ rằng chúng ta thuộc về Chúa vì Ngài không phải là Chúa của sự sợ hãi mà là Chúa của khoan dung và tha thứ.

Là linh mục, chúng ta không phải được gọi để sống cô lập hay một mình đương đầu với khó khăn, nhưng chúng ta được gọi để thiết lập tương quan mật thiết với anh chị em, với các anh em linh mục, các tu sĩ, với bề trên và những người thân cận với chúng ta. Chúng ta nên dành nhiều thời gian để giao tế, để chia sẻ, để lắng nghe những tâm tình và ý kiến của anh chị em của chúng ta.

GIÁO DÂN HÃY ĐỒNG HÀNH VÀ NÂNG ĐỠ CÁC LINH MỤC

Sứ vụ của linh mục là được phục vụ và hướng dẫn giáo dân, nhất là hướng dẫn về mặt đức tin và tinh thần. Tôi nhớ lời của thánh Gioan Vianey nói với chúng ta rằng: “Linh mục là món quà của Thiên Chúa,” là món quà Chúa ban cho anh chị em giáo dân trong lòng Giáo hội. Tôi hy vọng anh chị em giáo dân luôn biết đồng hành với các linh mục của mình và trân quý “món quà” mà Chúa ban cho anh chị em.

Linh mục cũng là con người. Linh mục nhiều lúc cũng có nhiều thiếu sót. Như đã đề cập trên đây, linh mục ngày nay đang phải chịu nhiều áp lực về đời sống tâm linh, xã hội và tương quan với mọi giới. Các giáo dân hãy học thông cảm với những áp lực và thiếu sót của các linh mục. Tôi nhớ lời của Đức Giám Mục Robert Barren, viết trong cuốn “Letter to a Suffering Church” (Bức Thư Viết Cho Một Giáo Hội Chịu Đau Khổ”, rằng khi thế giới này đang có xu hướng tìm cách đánh phá Giáo hội, khi mà truyền thông và thế tục đang dò xét và tấn công các chủ chăn của mình, giáo dân không nên chọn cách phàn nàn, lên án hay bỏ Giáo hội mà ra đi, nhưng hãy ở lại trong Giáo hội, đồng hành với các vị chủ chăn của mình để bảo vệ Giáo hội và để chống lại thế lực bạo tàn.

Vâng, tôi muốn mượn lời Đức Hồng Y Stella để mời gọi anh chị em: “Giáo dân chúng ta không nên đòi hỏi các linh mục chúng ta cung cấp và đáp ứng những nhu cầu của chúng ta như một cái máy ban phát các dịch vụ thánh. Nhưng hãy yêu mến, đồng hành và nâng đỡ các linh mục của mình.” (Vatican News 3/12/2019) Hãy dành cho các ngài những lời khen khi các ngài nỗ lực làm việc, hãy góp ý một cách chân thành và đúng lúc, đúng chỗ và đúng mực mỗi khi các ngài có những thiếu sót. 

Tôi tin rằng, khi các linh mục cảm nghiệm được tình thương mến, sự động viên và ý kiến xây dựng của anh chị em giáo dân, thì đời sống dâng hiến của các ngài sẽ trở nên vui tươi hơn, cuộc sống có nhiều “màu sắc” hơn. Tôi tin rằng khi các linh mục cảm thấy được trong sự yếu đuối và mỏng dòn của kiếp người, nếu được giáo dân mình đồng hành và nâng đỡ thì khi gặp khó khăn thử thách, các ngài sẽ không bao giờ bỏ cuộc, mà luôn tìm ra những lối thoát và phương cách để vượt qua những thử thách và khó khăn đó. Như thế, nỗi đau về việc linh mục tự tử sẽ không bao giờ ở lại bên tai chúng ta. Như thế Giáo hội chúng ta mới tràn đầy niềm vui và hy vọng.

 Ngày Lễ Thánh Hiến, 02 tháng 02 năm 2020
Linh mục Antôn Phạm Trọng Quang, SVD

Bài viết đăng trên trang Vietcatholic: http://www.vietcatholic.net/News/Html/254501.htm


Sứ Vụ Truyền Giáo: Lời Cam Kết Của Thành Viên Phong Trào Cursillo

  Sứ Vụ Truyền Giáo: Lời Cam Kết Của Thành Viên Phong Trào Cu rsillo   1.       Dẫn nhập Buổi chiều ngày cuối cùng khóa “khóa ba ngà...