21.2.21

HIỂU THÊM Ý NGHĨA CỦA VIỆC BÁC ÁI

 

HIỂU THÊM Ý NGHĨA CỦA VIỆC BÁC ÁI

Chúng ta đã bước vào Mùa Chay được ít ngày, Giáo Hội kêu gọi chúng ta dùng thời gian này để thực hiện các việc Giữ Chay, Cầu Nguyện và Bố Thí, thường gọi là Làm Việc Bác Ái.

Trong Sứ Điệp Mùa Chay năm nay, Đức Thánh Cha Phanxicô viết rằng, “con đường khó nghèo và từ bỏ chính mình qua việc giữ chay, quan tâm và yêu thương chăm sóc người nghèo qua việc làm bác ái, và trò chuyện như trẻ thơ với Chúa Cha qua việc cầu nguyện giúp chúng ta có thể sống đức tin chân thành, đức cậy sống động và đức ái hiệu quả.” (Bản dịch của Vietcatholic)

Chúng ta có thể dành nhiều thời gian để chỉa về ý nghĩa của ba việc làm này. Tuy nhiên trong khuôn khổ của bài viết, tôi muốn chia sẻ thêm chút ít về ý nghĩa của việc bố thí.

Trước hết việc bố thí hay việc làm bác ái là thể hiện tình yêu và sự quan tâm của chúng ta đối với người khác. Nói theo lời của Thánh Thomas Aquinas, bác ái đó là “ước muốn hoặc làm điều gì tốt đẹp và mang lại hạnh phúc cho người khác” (Tổng Luận Thần Học, II.II.26.2). Vậy việc làm tốt đẹp đây là gì? Hay nói cách khác, chúng ta nên bố thí điều gì để mang lại lợi ích và hạnh phúc cho người khác?

Thứ nhất, đó là bố thí vật chất. Thực thi việc bác ái cho người nghèo (almsgiving) là một việc làm rất thông dụng của chúng ta từ trước đến nay. Nhất là trong dịp Mùa Chay, Giáo Hội kêu gọi chúng ta ăn chay kiêng thịt, giảm bớt chi tiêu để dành tiền giúp cho người nghèo và những ai già nua bệnh tật. Tuy nhiên, đây chỉ là việc bố thí sơ đẳng nhất, ngoài ra chúng ta còn cách bố thí có giá trị cao đẹp hơn và mang ý nghĩa sâu xa hơn nữa.

Thứ hai, là bố thí tinh thần. Việc bố thí này được hiểu như là sự quan tâm, cảm thông, chăm sóc người khác hay dành thời gian quý báu của chúng ta cho họ. Ví dụ, trong Mùa Chay này chúng ta giảm bớt thời gian giải trí, cắt giảm thời gian xem tivi, dùng vi tính hay dùng điện thoại, để thăm viếng nhau, gọi điện quan tâm những anh chị em cao niên, bệnh tật và nhiều trường hợp neo đơn khác.

Cuối cùng, có một món quà mà chúng ta đang có và có thể bố thí cho người khác, đó là món quà đức tin. Đây là việc bác ái quan trọng nhất và có giá trị cao thượng nhất, là khi chúng ta sẵn sàng chia sẻ đức tin Công Giáo ta cho anh chị em khác. Nếu tôi nói chia sẻ món quà đức tin có nghĩa là tôi muốn nhấn mạnh đến tính cần thiết và cấp bách của công việc truyền giáo, sứ vụ mà chúng ta lãnh nhận từ Thiên Chúa: “hãy đi khắp tứ phương thiên hạ, luôn báo Tin Mừng cho mọi loài thọ tạo.” Mt, 16, 15).

Đối với các tín hữu, việc loan báo Ting Mừng hay hay sứ vụ truyền giáo nói lên căn tính của chúng ta và của Giáo Hội. Công Đồng Vatican II khẳng định cho ta điề này: “Tự bản tính, Giáo Hội lữ hành là truyền giáo, vì chính Giáo Hội bắt nguồn từ sứ mạng của Chúa Con và Chúa Thánh Thần theo ý định của Thiên Chúa Cha” (AG 2).

Mùa Chay về, Giáo hội một lần nữa kêu gọi chúng ta gia tăng việc cầu nguyện, giữ chay và thực thi việc bác ái. Đâu đâu chúng ta đều nhìn thấy người nghèo, số người nghèo không bao giờ giảm bớt, thậm chí còn gia tăng. Nghèo ở đây không chỉ nghèo về vật chất nhưng còn nghèo về tinh thần, nghèo tình thương và nghèo về niềm tin tôn giáo.

Vậy, xin Thiên Chúa chúc lành cho mọi người chúng ta, giúp chúng ta sống một Mùa Chay sốt sắng, quảng đại và nhiệt thành, để chúng ta tiếp tục thực thi công việc bác ái, bố thí những điều cần thiết và tốt đẹp cho anh chị em mình.

Linh mục Antôn Phạm Trọng Quang, SVD


12.2.21

Để Lộc Thánh Thiên Chúa Được Sinh Hoa Kết Trái


Suy niệm ngày Tin Mừng Mồng Ba Tết-Thánh hóa công ăn việc làm

(Mt, 25, 14-30)

 

Đài Loan có khoảng gần 70% dân số theo đạo Phật và đạo Giáo nên cứ mỗi dịp Xuân về các chùa chiền, đình, miếu ở đây đều tấp nập người về đi lễ. Với tâm niệm của người có niềm tin, những ngày đầu Xuân là dịp đặc biệt để họ đến chùa, đình hoặc miếu để cúng vái, với mục đích tạ ơn các vị thần linh và đức Phật đã ban phước cho họ trong một năm qua hoặc để giải các “hạn”, còn gọi để xóa đi những điều không may. Ngoài ra, khi lên chùa, họ cũng muốn hái lộc, và cầu xin sự bình an và những điều may cho năm mới.

Có nhiều thứ lộc họ hái để mang về nhà, đó là các câu đối, các câu Phật pháp hay các lời dạy trong kinh điển của các vị thần linh. Cũng có người thích nhận được hoa, trái cây và nhiều vật quý báu khác. Đặc biệt nhiều ngôi chùa còn phát những đồng tiền nhỏ để dân chúng nhận về làm “vốn” cho công việc kinh doanh trong năm.

Quả vậy, điều rất thú vị khi đến chùa, miếu hay đình trong dịp đầu năm của người Đài Loan cũng không chỉ để hái lộc, họ cũng rất độ lượng “làm công quả”, dâng cúng tiền bạc cho nhà chùa để tỏ lòng biết ơn đức Phật và các vị thần linh đã phù hộ cho công việc làm ăn của họ trong năm qua, đồng thời giúp phát triển tôn giáo cũng như các công tác xã hội của họ.

Có nhiều điểm tương đồng khi so sánh truyền thống đi lễ chùa miếu của người Đài Loan với truyền thống mừng Xuân của người Công Giáo Việt Nam. Giáo Hội chúng ta cũng rất coi trọng truyền thống văn hóa và các nghi thức phụng vụ trong những ngày Tết.

Những ngày đầu Xuân, trong các nhà thờ Công giáo Việt Nam, đâu đâu cũng tràn ngập người về dự lễ. Đặc biệt, ba ngày Tết được coi như là những giây phút thiêng liêng chúng ta dùng để tạ ơn Thiên Chúa, cầu cho các bậc tổ tiên và xin Chúa thánh hóa công ăn việc làm.

Thật tài tình, các thần học gia và chuyên gia phụng vụ đã chọn các bài đọc dùng trong “ngày thánh hóa công ăn việc làm” rất có ý nghĩa linh thánh và đầy tính văn hóa. Các bài đọc này đặc biệt nói lên tình yêu Thiên Chúa dành cho loài người và cũng như sứ vụ của con người được cộng tác với Ngài trong việc xây dựng thế giới này ngày càng tốt đẹp hơn.

Thiên Chúa trao ban cho con người công việc làm ăn

Bài đọc một của thánh lễ hôm nay, Sách Sáng Thể thuật lại, sau khi Thiên Chúa hoàn thành công việc sáng tạo muôn loài trời đất, Ngài “đem con người đặt vào vườn E-đen, để cày cấy và canh giữ đất đai” (St. 2, 15). Như thế, từ thuở ban đầu Thiên Chúa đã trao ban cho con người hết mọi loài thọ tạo và giao cho trách nhiệm trông coi và canh tân thế giới này. Mặc dầu các công trình sáng tạo của Thiên Chúa đã rất hoàn hảo, nhưng Ngài muốn con người không được yên nghỉ mà luôn phải công tác.

Công việc làm ăn hằng ngày của con người không chỉ mang lại những lợi ích hằng ngày cho nhu cầu của con người mà còn mang một ý nghĩa thiêng liêng rất cao cả, vì công việc này được Thiên Chúa chúc lành và trao phó vào tay con người. Tất cả mọi công việc làm ăn, vì thế rất cần thiết, chính đáng và được tôn trọng.

Nói cách khác, hoàn thành công việc hàng ngày là một sứ vụ cấp bách, cho nên không ai được sống vô kỷ luật, biếng nhác, hay tìm cách trốn tránh chẳng muốn làm việc gì. Thánh Phao-lô thậm chí rất nghiêm khắc khi ngài dạy rằng: “Nhân danh Chúa Giê-su Ki-tô, tôi truyền dạy và khuyên nhủ anh em hãy ở yên mà làm việc, để có của nuôi thân. Hãy làm việc thiện, đừng sờn lòng nản chí” (2 Tx 3, 12-13).

Thiên Chúa ban ơn để con người hoàn thành công việc

Khi trao ban công việc cho con người, Thiên Chúa không để mặc cho con người tự mình hoàn thành nhưng Ngài ban cho con người đủ ơn lành, khả năng và địa vị tùy theo tính cách và hoàn cảnh của từng người để hoàn thành công việc được giao.

Sách Tin Mừng thánh Mathêu thuật lại câu chuyện, “có người kia sắp đi xa, liền gọi đầy tớ đến mà giao phó của cải mình cho họ. Ông cho người này năm yến, người kia hai yến, người khác nữa một yến, tuỳ khả năng riêng mỗi người” (Mt 25, 14-15).

Quả vậy, Thiên Chúa đặt chúng ta vào nhiều môi trường làm khác nhau, có người làm việc trong ruộng vườn, có người làm việc trong nhà máy hay văn phòng, lại có người làm việc trên giảng đường, bệnh viện hay trong nhà thờ... Ngài không để chúng ta vất vả khó nhọc một mình mà luôn ban đủ sức mạnh cần thiết để chúng ta hoàn thành công việc của mình. Thiên Chúa thấu hiểu những vất vả và khó nhọc của chúng ta. Những giọt mồ hôi và nước mắt của chúng ta đều được Ngài nhìn nhận và thánh hóa chúng thành những của lễ tiến dâng đẹp lòng Ngài.

Điều Thiên Chúa muốn nơi mỗi người chúng ta là siêng năng làm việc, phát huy hết khả năng của mình, để công việc đó mang lợi ích cho gia đình, cho xã hội và Giáo Hội. Việc chúng ta cầu xin Thiên Chúa chúc lành và thánh hóa công việc làm là để chúng ta củng cố niềm tin và luôn biết dựa vào sức mạnh của Ngài để hoàn thành công việc mà không bao giờ bị vương vấn bởi những vất vả và thử thách của nó.

Lời kết

Những người tin vào đức Phật và các vị thần linh ở Đài Loan đến miếu hoặc đình chùa vào những ngày Xuân để xin lộc và dùng “tài lộc” đó để làm ăn kinh doanh, sau một năm họ trở lại để tạ ơn các vị thần của họ. Còn chúng ta, ước gì những ngày đầu năm, khi đi tham dự thánh lễ, khi cầu xin Chúa thánh hóa công ăn việc làm, ta cũng luôn biết tạ ơn và tin tưởng vào sự quan phòng và trợ giúp của Thiên Chúa. Xin cho mọi người chúng ta biết dùng “vốn lộc” Ngài ban để sinh hoa kết trái như “người lãnh năm yến lấy số tiền ấy đi làm ăn buôn bán, và gây lời được năm yến khác; người đã lãnh hai yến gây lời được hai yến khác” (Mt 25, 16-17).

Ca dao tục ngữ Việt Nam có câu: “Trời nào có phụ ai đâu! Hay làm thì giàu, có chí thì nên.” Vì thế, chỉ cần chúng ta chuyên chăm cần cù làm việc, Thiên Chúa sẽ chúc lành và thánh hóa để công việc chúng ta được thành công. Tin tưởng rằng chúng ta có đủ hào khí bắt đầu một năm làm việc mới, và năm sau chúng ta cũng tràn đầy hy vọng đến trước mặt Chúa dâng lên Ngài thành quả công việc của năm, và Ngài sẽ nói với chúng ta: “Khá lắm! Hỡi đầy tớ tài giỏi và trung thành! Hãy và mà hưởng niềm vui mà ta đã dành cho ngươi” (Mt 25, 23).

Kính chúc quý vị năm mới tràn đầy ơn Chúa, VẠN SỰ AN KHANG!

 

Linh mục Antôn Phạm Trọng Quang, SVD

 

8.1.21

Chúa Chịu Phép Rửa và Những Mối Dây Liên Kết

 

Chúa Chịu Phép Rửa và Những Mối Dây Hiệp Nhất

 

Mc 1, 7-11

 


Năm 2020 qua đi, chúng ta để lại phía sau những nuối tiếc, buồn phiền và thất vọng, và tự tin bước vào năm mới 2021 với nhiều niềm hy vọng, cầu mong một năm mới đầy may mắn, thành công và dồi dào sức khỏe. Lịch Phụng vụ của Giáo hội hôm nay cũng kết thúc Mùa Giáng Sinh để bắt đầu Mùa Thường Niên với Thánh Lễ Chúa Giê-su chịu phép rửa trên sông Gio-đan.

 

Đây là một dấu mốc rất quan trọng nhằm đánh dấu sự khởi đầu sứ mệnh Cứu Thế của Chúa Giê-su, sau 30 năm xuống thế làm người, Người bắt đầu cuộc sống công khai sứ vụ loan báo Tin Mừng cứu độ. Với tinh thần khiêm tốn và tuân phục, Chúa Ki-tô đã đến sông Gio-đan và xin nhận phép rửa từ ông Gio-an mặc dầu Người không hề vướng mắc một vết nhơ tội lỗi nào.

 

Theo tường trình của thánh Mác-cô, sau khi Chúa Giê-su vừa chịu phép rửa xong, Người bước lên khỏi nước, thì các tầng trời liền mở ra và thấy Thần Khí Chúa như chim bồ câu ngự xuống trên Người. Lại có tiếng Chúa Cha từ trời phán: “Con là Con yêu dấu của Cha, Cha hài lòng về Con” (Mc 1, 11).

 

Phép rửa sám hối mà Chúa Giê-su đã lãnh nhận nơi sông Gio-đan là Bí Tích Người đã thiết lập, để bắt đầu một chương trình công khai rao giảng, và cũng để tẩy rửa và giải thoát chúng ta khỏi ách nô lệ tội lỗi và quyền lực hỏa ngục, nhằm phục hồi quyền được làm con Thiên Chúa của nhân loại chúng ta. Qua sự kiện Chúa Giê-su chịu phép rửa, chúng ta thấy được một số mối dây hiệp nhất rất quan trọng.

 

Mối Dây Hiệp Nhất Chúng Ta Với Chúa Ki-tô

 

Trong tường thuật của thánh Mác-cô, hình ảnh Thiên Chúa Ba Ngôi đã được mặc khải với tiếng phán từ trời, rằng Đức Giê-su là Con yêu dấu của Chúa Cha, được Chúa Cha sai đến trần gian để hoàn thành sứ vụ cứu chuộc của Ngài. Còn hình ảnh Chúa Thánh Thần hiện ra dưới hình ảnh chim bồ câu để thánh hóa sứ vụ của Chúa Giê-su. Như thế sứ vụ này có sự tham dự của Ba Ngôi Thiên Chúa nhằm thiết lập lại tương quan của chúng ta với Thiên Chúa, tương quan này đã bị phá vỡ bởi A-đam, người đã không nghe lời Thiên Chúa mà phá vỡ lời minh ước được thiết lập ngay từ thuở ban đầu.

 

Kinh Thánh khẳng định, phép rửa là nền tảng của toàn bộ đời sống Ki-tô hữu, là cơ hội dẫn đưa chúng ta vào sự sống viên mãn và vào mối dây hiệp nhất với Chúa Ki-tô, như lời của thánh Phao-lô nói: “Khi chúng ta được dìm vào nước Thánh Tẩy để nên một với Đức Ki-tô Giê-su, chúng ta được dìm vào trong cái chết của Người, chúng ta đã cùng được mai táng với Người. Bởi thế, như Người đã được sống lại từ cõi chết nhờ quyền năng vinh hiển của Chúa Cha, thì chúng ta cũng được sống một đời sống mới” (Rm 6, 3-4).

 

Thật vậy, bí tích Thánh Tẩy là một điều kiện rất cần thiết để đưa chúng ta đến việc kết hiệp mật thiết với Thiên Chúa qua Đức Ki-tô. Vì khi lãnh nhận phép rửa, chúng ta được sạch tội, được trở thành “tạo vật mới” (2 Cr 5, 17), “thành nghĩa tử của Thiên Chúa” (Gl 4, 5), “thành chi thể của Chúa Ki-tô” (1 Cr 6, 15) và nhiều ơn phúc khác. Nhờ đó, chúng ta được ơn công chính hóa để tin tưởng, cậy trông và yêu mến Ngài. Cũng nhờ đó, chúng ta biết sống công chính và hành động đúng đắn dưới sự hướng dẫn của Chúa Thánh Thần.

 

Mối Dây Hiệp Nhất Các Ki-tô Hữu

 

Khi chúng ta lãnh nhận Bí Tích Thánh Tẩy là ta trở nên một thành viên của Giáo hội. Bí tích này đặt nền tảng cho sự hiệp thông của chúng ta với anh chị em của mình, những ai cùng chịu một phép rửa trong Giáo Hội Công Giáo. Như Sách Giáo Lý Hội Thánh Công Giáo dạy: “Thật vậy, những người tin ở Chúa Ki-tô, được công chính hóa nhờ đức tin khi chịu phép rửa tội, họ đã được tháp nhập vào Chúa Ki-tô, vì thế họ có quyền mang danh Ki-tô hữu và xứng đáng được con cái của Hội Thánh Công Giáo nhìn nhận là anh em trong Chúa” (GLHTCG, số 1271).

 

Nói cách khác, nhờ phép Thánh Tẩy mà chúng ta được thông phần vào nhiệm thể của Chúa Ki-tô, chúng ta trở thành một phần tử trong Giáo Hội trong đó Đức Ki-tô là đầu, chúng ta là những chi thể sống động với cùng một đức tin. Vì được liên kết với Chúa Ki-tô nên mọi Ki-tô hữu đều được tham sự vào chức vụ tư tế, vương giả và tiên tri của Chúa Ki-tô.

 

Nghĩa là, không chỉ có một mình chúng ta được liên kết với Đức Ki-tô, nhưng có nhiều anh chị em cũng được liên kết với Người khi họ chịu phép rửa. Và trong Đức Ki-tô, chúng ta được trở nên anh chị em với nhau trong cùng một gia đình Giáo Hội. Đã là thành thành viên, chúng ta được hưởng trọn vẹn những ân huệ mà Giáo Hội mang lại, đồng thời cũng có trách nhiệm bảo vệ và xây dựng Giáo Hội này ngày càng được thánh thiện và vững mạnh hơn.

 

Sứ Vụ Loan Báo Tin Mừng

 

Như đã đề cập trên đây, khi lãnh nhận Bí Tích Rửa Tội, chúng ta được Thiên Chúa kêu gọi trở thành môn đệ của Chúa Giê-su. Chúng ta đón nhận món quà của Bí Tích Rửa Tội là món quà được “trở nên tạo vật mới” trong Đức Ki-tô, thì chúng ta cũng chia sẻ với Người sức vụ rao giảng Tin Mừng, làm cho muôn dân trở thành môn đệ của của Chúa, như trong lời tường thuật của Thánh Mát-thêu: “Anh em hãy đi đến với muôn dân, làm phép rửa cho họ, nhân danh Chúa Cha, Chúa Con, và Chúa Thánh Thần, dạy bảo họ tuân giữ những điều Thầy đã truyền cho anh em, để muôn dân trở nên môn đệ của Thầy” (28, 19-20).

 

Hơn nữa, trong công trình cứu độ của Thiên Chúa, Ngài muốn mọi người được nghe rao giảng Tin Mừng và đón nhận phép rửa để chia sẻ quyền làm con của Ngài. Vì thế, chúng ta, những thành viên trong gia đình Giáo Hội, không thể xao lãng sứ mạng cao cả mà Chúa đã giao phó. Sứ vụ rao giảng Tin Mừng vì thế trở nên rất cấp bách. Thậm chí, theo cách diễn đạt của thánh Phao-lô, nếu chúng ta không thực thi sứ vụ rao giảng, chúng ta có lỗi trước mặt Thiên Chúa, thánh nhân viết: “khốn cho tôi, nếu tôi không rao giảng Tin Mừng” (1Cr 9,16).

 

Việc rao giảng Tin Mừng trong thời đại ngày hôm nay gặp rất nhiều khó khăn và thử thách, khi con người luôn tìm cách chối bỏ hoặc chống lại đức tin và luân lý Ki-tô giáo. Vì thế, chúng ta hãy cùng nhau cầu xin Chúa tiếp tục ban cho chúng ta lòng nhiệt thành, sự khôn ngoan, và tính kiên nhẫn, để bằng lời rao giảng và hành động của mình, chúng ta có thể trở nên chứng nhân của Chúa trong mọi hoàn cảnh và môi trường chúng ta đang sống.

 

Vì mục đích và sứ mệnh của đời sống Ki-tô hữu chúng ta, là không ngừng nỗ lực dẫn dắt mọi người đến với Chúa, giúp họ hiểu biết và đón nhận ơn Thánh Tẩy, đồng thời trở nên anh chị em với nhau bằng sợi dây liên kết mật thiết với Thiên Chúa qua Đức Ki-tô và Giáo Hội.

 

Linh mục Antôn Phạm Trọng Quang, SVD


Bài đăng trên Vietcatholic

http://www.vietcatholic.net/News/Html/264889.htm


20.12.20

Xây Dựng Nhiệm Thể Chúa Kitô-Giáo Hội

 



CN IV Mùa Vọng

2 Sm 7, 1-5.8b-12.14a.16; Rm 16, 25-27; Lc 1, 26-38.

 

Nhà, gia tài rất quan trọng trong lòng mọi người, nhất là đối với với người Việt Nam. Nhà là nơi chúng ta được sinh ra, nhà là nơi chúng ta được lớn lên và được giáo dục để trở nên người, cũng từ ngôi nhà gia đình chúng ta đón nhận được nhiều tình thương và kinh nghiệm sống. Tuy nhiên, từ “nhà” mang nhiều ý nghĩa khác nhau: trước hết, đó là cái nhà vật chất, sau nữa đó là cái nhà tinh thần, như là gia đình, trong đó có nhiều người sống tương quan với với nhau. Ý nghĩa thứ ba là ngôi nhà thiêng liêng, chính là Giáo Hội, là nhiệm thể Chúa Kitô (Ep 5, 31). Vậy, đã là con người, nhất là người Công giáo chúng ta luôn được mời gọi ra sức xây dựng các ngôi nhà này cho vững chắc.

Xây dựng ngôi nhà vật chất.

Người Việt chúng ta thường có câu: “an cư lạc nghiệp,” tức là muốn cho công việc làm ăn được ổn định, muốn cho công thành danh toại, trước hết phải “định cư”, phải có cái nhà để ở. Vì thế, nỗ lực đầu tiên của chúng ta là tìm được nơi ở xứng hợp, xây cất được một ngôi nhà khang trang và sạch đẹp để ở. Nhiều người trẻ từ miền quê ngày hôm nay sẵn sàng bỏ gia đình ở quê lên thành thị thậm chí sang các nước khác lao động, để thay đổi cuộc sống. Mục đích thay đổi cuộc sống được đặt ra đầu tiên, đó là khi kiếm được đồng tiền, để xây nên một ngôi nhà, sau đó mới tính những chuyện mua sắm khác.

Người Việt chúng ta, ngay cả khi đã ra nước ngoài, vẫn thích mua những ngôi nhà rất lớn. Mặc dầu công việc rất vất vả, phải chi tiêu cho nhiều thứ cần thiết khác, nhưng ngôi nhà vẫn là mục ưu tiên hằng đầu của các gia đình người Việt, thậm chí có nhiều gia đình có cả hai tới ba ngôi nhà, mục đích là để di chuyển qua lại khi thời tiết thay đổi. Quả vậy, trong thâm tâm của người Việt, chúng ta không muốn ở nhà thuê hay nhà trọ, vì dẫu sao nhà mình vẫn hơn.

Xây dựng ngôi nhà tinh thần

Ngôi nhà tinh thần chúng ta nhấn mạnh ở bài đây, đó là ngôi nhà gia đình. Trong văn hóa Việt Nam, gia đình là một “ngôi nhà” hết sức quan trọng, là nơi người ta được yêu thương, được giáo dục và chia sẻ buồn-vui-sướng-khổ. Vợ, chồng người Việt chúng ta gọi nhau là “nhà tôi ôi”, “bà nhà tôi” hay “ông nhà tôi”... Khi con cái lớn lên chúng muốn cưới vợ lấy chồng thì chúng ta gọi là “xây dựng gia đình,” con cái đã “thành gia thành thất.”

Tóm lại gia đình là một ngôi nhà tinh thần đối với mọi người chúng ta, vì trong đó chúng ta có được tất cả. Gia đình là nơi chúng chúng ta tìm về để có được sự bình yên và bao kỷ niệm, như trong bài hát “Cầu cho cha mẹ,” tác giả viết: “ai qua là bao chốn xa, thấy đâu vui cho bằng mái nhà.” Quả thật, gia đình là ngôi nhà tinh thần rất quan trọng mỗi chúng ta ai nấy đều có trách nhiệm xây dựng và bảo vệ ngôi nhà thân yêu ấy.

Xây nhà thương liêng

Là người Công giáo, ngoài ngôi nhà vật chất và nhà tinh thần ra, chúng ta còn một ngôi nhà thứ ba chúng ta cần phải xây dựng, đó là ngôi nhà Giáo Hội, là nhiệm thể Chúa Giêsu Kitô.

Chúng ta cần quay ngược lại lịch sử để tìm hiểu ý nghĩa của ngôi nhà thiêng liêng, nhiệm thể của Chúa Giêsu, bắt đầu từ câu chuyện ông Đavít. Theo ghi chép của Kinh Thánh, khi “vua được yên cửa yên nhà và Đức Chúa đã cho vua được thảnh thơi mọi bề, ông nói với ngôn sứ Nathan rằng: “tôi được ở nhà bằng gỗ bá hương, còn Hòm Bia Thiên Chúa thì ở trong lều vải” (2 Sm 7, 2). Điều này nói lên ước muốn của Đavít là xây một đền thờ để hòm bia Thiên Chúa ngự, ông cho rằng đây là một việc làm rất cần thiết để tỏ lòng tôn kính Đức Chúa.

Ông Nathan nghe vậy thì khuyên ông Đavít cứ thực hiện như điều ông mong muốn. Tuy nhiên, vì ông Đavít đã già yếu, ông không thể thực hiện được mà phải chờ đến thời của con trai của ông là Salomon mới giúp ông thực hiện giấc mơ quý giá này.

Một điều rất thú vị trong câu chuyện này, khi Thiên Chúa đã biết lòng thành của ông Đavít về việc muốn xây dựng cho Thiên Chúa ngôi đền thờ vật chất, thì Thiên Chúa lại muốn xây dựng một ngôi nhà thiêng liêng, ngôi nhà này sẽ tồn tại đến muôn ngàn đời. Người phán thế này: “Ta sẽ cho ngươi được thảnh thơi, không còn thù địch nào nữa, TaĐỨC CHÚA sẽ lập cho ngươi một nhà. Khi ngày đời của ngươi đã mãn và ngươi đã nằm xuống với cha ông, Ta sẽ cho dòng dõi ngươi đứng lên kế vị ngươi, một người do chính ngươi sinh ra, và Ta sẽ làm cho vương quyền của nó được vững bền” (2 Sm 7, 11-12).

Điều Thiên Chúa hứa ban về một dòng tộc sẽ sản sinh ra một vị quân vương đầy uy quyền. Người con đó là Đức Giêsu, được sinh ra từ cung lòng một trinh nữ đã thành hôn với một người tên là Giuse, thuộc dòng dõi vua Đavít. Trinh nữ ấy tên là Maria” (Lc 1, 26).  Nhờ có Đức Maria, mà Đức Giêsu đã xuống thế làm người và ở trong lòng Giáo Hội. Như vậy Giáo Hội là ngôi nhà thiêng liêng, chúng ta là những thành phần của Giáo Hội, chúng ta được ở trong một ngôi nhà thiêng liêng, trong đó có nhiều thành viên, các thành viên này gắn kết mật thiết với nhau và đứng đầu là Chúa Giêsu Kitô.

Hơn nữa, theo lý giải của thánh Phaolô, chúng ta là một thân thể không chỉ vì là thành viên của một cộng đoàn, nhưng vì được chịu cùng một phép rửa và được lãnh nhận một Thần Khí. Trong Giáo Hội, các chi thể chỉ là “một” trong Ðức Kitô. Thánh Phaolô nói: “Anh em là thân thể Ðức Kitô, và mỗi người là một bộ phận” (1Cr 12: 27). Đây là một sự hiệp nhất có tính cách chức năng và sứ vụ, mỗi thành phần có chức năng và nhiệm vụ khác nhau, nhưng đều cùng chung một mục đích là xây dựng thân thể mầu nhiệm của Chúa Kitô nhờ ân huệ của Thần Khí (xem 1Cor 12,12).  

Phản tỉnh:

Chúng ta đang chuẩn bị đón mừng lễ sinh nhật của Chúa Giêsu, Đấng Emmanuel, nghĩa là Thiên Chúa ở cùng chúng ta, chúng ta hãy chuẩn bị tâm hồn thật sốt để được tham dự vào mầu nhiệm “thân thể Ðức Kitô.” Cao điểm của việc tham dự này là tham gia các sinh hoạt và nghi thức thờ phượng của Giáo Hội, nổi bật là các thánh lễ Misa, vì theo lời của thánh Phaolô: “Khi ta nâng chén chúc tụng mà cảm tạ Thiên Chúa, há chẳng phải là dự phần vào Máu Đức Ki-tô ư? Và khi ta cùng bẻ Bánh Thánh, đó chẳng phải là dự phần vào Thân Thể Người sao? Bởi vì chỉ có một tấm Bánh, và tất cả chúng ta chia sẻ cùng một Bánh ấy, nên tuy nhiều người, chúng ta cũng chỉ là một thân thể” (1 Cr 10, 16-17). Như thế cả cộng đoàn cùng đón nhận thân thể Chúa, nên Giáo Hội là một với Ngài, là thân thể của Ngài.

Điều này thật nhiệm mầu và rất khó hiểu đối với chúng ta, nhưng âu cũng giống như Đức Mẹ, khi thiên thần truyền tin rằng Mẹ sẽ mang thai sinh hạ Đấng Cứu Thế, thì mẹ đã rất ngỡ ngàng và thưa với sứ thần, “việc ấy sẽ xảy ra cách nào, vì tôi không biết đến việc vợ chồng” (Lc 1, 34). Nhưng sau khi được sứ thần giải thích việc Đức Maria chịu thai là bởi Chúa Thánh Thần thì Đức Maria, thì Mẹ đặt mọi niềm tin vào kế hoạch của Thiên Chúa, liền thưa, “vâng, tôi đây là nữ tỳ của Chúa, xin Chúa cứ làm cho tôi như lời sứ thần nói” (Lc 1, 38).

Xin cho mọi người chúng ta, luôn biết học hỏi Đức Maria, biết đặt niềm tin vào quyền năng của Chúa Thánh Thần, để chúng ta luôn tin rằng Thiên Chúa, Đấng Emmanuel đang hiện diện trong lòng Giáo Hội, và ở giữa chúng ta. Chúng ta cũng luôn ra sức bảo vệ và xây dựng ngôi nhà thiêng liêng ấy bằng đời sống cầu nguyện, sống các nhân đức và thực thi bác ái như Chúa Kitô và Giáo Hội mong muốn.

Linh mục Antôn Phạm Trọng Quang, SVD

12.12.20

Để Người Được Lớn Lên

 

Để Người Được Lớn Lên

CN III Mùa Vọng Năm B

Ga 1:6-8, 19-28

Nếu thường dùng internet, chúng ta thấy những năm gần đây xuất hiện nhiều đoạn phim ngắn, nội dung rất thực, gần với cuộc sống đời thường, vì thế người xem rất dễ cảm động và thích lấy làm thích thú. Tuy nhiên, khi người xem đang chú tâm với những tình tiết đầy cảm xúc của câu chuyện, thì đoạn phim bất ngờ kết thúc với thông tin quảng cáo, thường là cho một thương hiệu hoặc một sản phẩm gì đó.

Cũng vậy, vài năm gần đây, trong lĩnh vực giải trí của người Việt, chúng ta cũng thấy thể loại phim ngắn này cũng đã xuất hiện nhiều trên facebook, youtube và các giao diện khác. Các đoạn phim ngắn thường khai thác các tình huống rất gần gũi với cuộc sống xung quanh ta. Ví dụ khi một ai đối xử tệ với người quyét rác, với người bán hàng rong, với phụ nữ, với trẻ em hay với người già..., thì đột nhiên có một “anh hùng” nào đó xuất hiện, người này lên tiếng bênh vực cho người được coi là “thấp cổ bé miệng” và tìm cách lấy lại danh dự cho họ.

Thường các tình tiết trở nên căng thẳng qua cuộc đối thoại giữa người gây ra bất công và người được coi là “anh hùng”. Người trong cuộc hỏi: “anh, hoặc cô là ai mà dám xen vào chuyện của người khá?”  Kẻ anh hùng sẽ trả lời “tôi là T.K” hay “tôi là M.L.” Các bạn trẻ gọi phong cách của các đoạn phim ngắn này là những “cái kết bất ngờ”. Mục đích của phim là nhằm quảng bá tên tuổi của một ai đó và để muốn người khác theo dõi kênh cá nhân của mình chứ không chỉ đơn giản là để quảng bá về giá trị đạo đức mà họ thực hiện khi giúp đỡ người khác.

Đây là trào lưu chung mà con người thời nay đang sử dụng để giới thiệu về danh tính hay sản phẩm của chính mình. Còn chúng ta thì sao, mục đích đời sống chúng ta là gì? Những công việc của chúng ta làm hằng ngày có phải là để tìm cơ hội tôn vinh chính mình không, hay ta sống vì một mục đích cao cả nào khác? Chúng ta cùng nhau suy gẫm câu chuyện về ông Gioan Tẩy Giả, để thấy được cách xử sự của ông thật rất đặc biệt, khác hoàn toàn với những gì chúng ta đang chứng kiến trong xã hội.

Tin Mừng của Thánh Gioan Tông Đồ kể rằng, khi dân chúng thấy ông Gioan Tẩy Giả rao giảng về phép rửa sám hối thì họ rất kính phục. Sứ điệp ông rao giảng có sức hấp dẫn và lôi cuốn một cách mãnh liệt. Vì thế, các thượng tế và thầy Lêvi sai người đến hỏi xem ông là ai. Ông Gioan trả lời: “Tôi không phải là Đấng Kitô.” (Ga 1:20) Người ta hỏi ông hay ông là Êlia chăng, thì ông trả lời: “Tôi không phải là Êlia.” (Ga 1:21) Vậy ông có phải là một vị ngôn sứ không, thì ông khẳng định: “Tôi không phải.” (Ga 1:21) Rồi ông tiết lộ: “Tôi là tiếng hô trong hoang địa: Hãy sửa đường ngay thẳng cho Đấng cứu thế đến như ngôn sứ Êlia đã loan báo.” (Ga 1:23).

Đoạn hội thoại giữa ông Gioan Tẩy Giả và những người Lêvi cho chúng ta thấy ông Gioan Tẩy Giả là người rất khiêm tốn, không quy công cho chính mình và luôn tìm cách giới thiệu hình ảnh Đức Kitô cho dân chúng.

Sự khiêm nhương: Khi dân chúng thấy những lời rao giảng của ông đầy hấp dẫn, họ theo ông vào hoang địa để nghe ông giảng. Thấy vậy, ông không muốn được ca tụng vì những thành tựu của mình mà khiêm tốn nhận mình chỉ là tiếng hô trong hoang địa. Ông chỉ muốn nhận vai trò của ông là dọn đường cho thẳng để chuẩn bị đón Đấng Kitô sắp đến.

Không phô trương: Từ cổ tới kim, chúng ta đều thấy con người thích phô trương, luôn tìm cách đánh bóng tên tuổi của mình. Nhất là trong thời kỳ của ông Gioan tại thế, người ta chán ngấy tình trạng xã hội suy đồi ở vùng Palestine.  Không chỉ có dân chúng mà các nhà lãnh đạo đất nước cũng như tôn giáo, đời sống của họ hết sức suy đồi. Vì thế, dân chúng đang chờ đợi một Đấng Messia đến để giải thoát họ khỏi ách nô lệ, giúp cho đất nước giàu mạnh và dân tộc được vững bền. Trong tình huống đó sứ điệp sám hối của ông Gioan đã làm dấy lên niềm hy vọng trong dân. Tuy nhiên, ông Gioan đã rất khiêm tốn, chấp nhận vị thế của mình trong vai trò làm chứng cho Đức Kitô, chứ không lạm dụng hay quy công cho chính mình, tránh xa những danh vọng mà mọi người đang muốn tôn vinh ông.

Làm chứng cho Đức Kitô: Mục đích việc ông Gioan chân nhận đúng giá trị của mình, không muốn để cho người khác chú ý đến mình là để giới thiệu về con người Đức Kitô, Ngài là Đấng cứu thế, Đấng tối cao, đấng mà muôn dân hằng mong đợi. Ông Gioan chủ trương rằng Đấng Kitô phải được lớn lên, còn ông phải bị lu mờ đi, (xem Ga 3:30) nghĩa là Đấng Kitô phải được tôn vinh, còn ông phải lùi vào bóng tối.

Thật vậy, chúng ta đang sống trong một xã hội có xu hướng tham vọng tôn thờ giá trị cá nhân. Chúng ta thấy rất rõ, ngày nay các tổ chức, các đoàn thể và đến các cá nhân, ai cũng muốn tìm cách xây dựng một lâu đài cá nhân càng kiên cố chừng nào càng tốt. Cái tôi hay giá trị cá nhân là cái mà chúng ta gọi là cái quyền mà không ai được xâm phạm. Sống trong bối cảnh môi trường xã hội đó, ít nhiều chúng ta cũng bị ảnh hưởng trong cách suy nghĩ và hành vi của mình. Vậy, câu chuyện của thánh Gioan ngày hôm nay, có giúp chúng ta phản tỉnh và học được bài học gì quý báu không?

Đối với các giáo xứ và cộng đoàn, chúng ta đang hân hoan chuẩn bị đón lễ Chúa giáng trần bằng các công trình làm hang đá đồ sộ để thu hút người về tham dự thánh lễ, thậm chí để hấp dẫn những người lương dân về tham quan và chụp hình. Tuy nhiên, đây là hình thức mang tính bề ngoài, nó sẽ qua đi một cách mau chóng. Vì thế, ngoài việc làm hang đá, giăng điện khắp đường làng khu phố, trang trí nhà thờ, chúng ta cũng nên dành nhiều sự quan tâm đến người nghèo, thăm viếng người già, những ai bệnh tật.... Hoặc khi các bạn lương dân tới viếng hang đá, tham dự lễ, chúng ta cũng tìm cách đón tiếp và giới thiệu Chúa cho họ, để họ cũng mầu nhiệm Chúa Giêsu Giáng Sinh.

Với các vị mục tử, khi chuẩn bị cho lễ Giáng Sinh, chúng ta thường bận rộn với nhiều chương trình sinh hoạt trong giáo xứ mà quên dành thời gian để cầu nguyện, giúp giáo dân chuẩn bị tâm hồn để đón nhận Chúa vào trong đời sống của họ. Ước chi các mục tử chúng ta đừng quá bận rộn với những công việc chỉ mang lại tiếng thơm cho chính cá nhân chúng ta, mà cũng cần biết “lánh xa một bên, tìm nơi thanh vắng”, mà cầu nguyện, chuẩn bị bài giảng chu đáo, những nội dung có giá trị để giúp nhiều người hiểu được ý nghĩa đích thực của lễ Giáng Sinh.

Và đối với các giáo dân, mặc dầu đang trong Mùa Vọng, nhưng chúng ta đã bắt đầu lo toan việc tặng quà và dự tính tổ chức tiệc tùng cho ngày lễ Giáng Sinh. Ước mong mọi người chúng ta ý thức được rằng những việc làm này tuy cần thiết nhưng cũng không giá trị cho bằng việc dành nhiều thời gian tham dự thánh lễ, tham dự các buổi tĩnh tâm, xưng tội và cầu nguyện, để có một tâm hồn thật đơn sơ và trong sạch, để Ngôi Hai Thiên Chúa được ngự vào trong tâm hồn chúng ta.

Linh mục Antôn Phạm Trọng Quang, SVD


http://www.vietcatholic.net/News/Html/263970.htm

24.10.20

ĐỨC GIÁO HOÀNG PHANXICÔ VÀ VẤN ĐỀ HÔN NHÂN ĐỒNG TÍNH

 ĐỨC GIÁO HOÀNG PHANXICÔ VÀ VẤN ĐỀ HÔN NHÂN ĐỒNG TÍNH

 

Bạn thân mến,

 

Chúng ta đang sống trong những ngày cuối cùng của tháng Mân Côi. Chúng ta tiếp tục lần chuỗi mân côi, cầu nguyện cho anh chị em nơi mảnh đất Miền Trung, đang gặp nhiều tai ương do lũ lụt gây ra trong những ngày qua. Ngoài ra, chúng cũng tiếp tục phát huy lòng bác ái, làm được những gì có thể để giúp họ chóng phục hồi cuộc sống.

 

Ngoài ra, trong những ngày gần đây, chắc có nhiều người trong chúng ta đang quan tâm, thậm chí lo lắng về thông tin Đức Giáo Hoàng Phanxicô kêu gọi luật Hiệp Nhất Dân Sự cho các cặp đồng tính. Thật hư thế nào xin mọi người giành ít phút cùng tôi đi tìm hiểu thêm vấn đề, để chúng ta có những hiểu biết đúng đắn và chia sẻ sự hiểu biết của mình cho những anh chị em xung quanh.

 

Theo tìm hiểu, vào thư Tư, ngày 21 tháng 10 năm 2020, một đại hội điện ảnh được tổ chức tại Roma. Trong đại hội này, ban tổ chức trình chiếu một bộ phim mang tựa đề “Francesco của đạo diễn Evgeny Afineevsky, chủ yếu ghi lại các sự kiện và tư tưởng thần học của Đức Giáo Hoàng Phanxicô.

 

Điểm đặc biệt nổi bật của bộ phim này là Đức Giáo Hoàng Phanxicô kêu gọi ban hành luật Hiệp Nhất Dân Sự cho các cặp hôn nhân đồng tính. Theo tin từ Vietcatholic, Đức Giáo Hoàng nói: “Người đồng tính có quyền là một phần của gia đình. Họ là con của Chúa và có quyền có gia đình. Không ai phải bị gạt bỏ, hoặc bị làm cho khốn khổ vì điều đó.”

 

Đức Giáo Hoàng nói thêm: “Điều chúng ta cần phải có là luật dân sự để công nhận đồng tính; để họ được bảo vệ về phương diện pháp lý.”

 

Như vậy, đây là những câu nói đã gây nhiều xôn xao. Nhất là có nhiều báo chí giải thích rằng tòa thánh Roma đã thay đổi lập trường về hôn nhân đồng tính, thậm chí có nhiều tờ báo đưa tin giật gân, với tít đề “Vatican chấp nhận hợp pháp hôn nhân đồng tính.” Thật vậy, những tiêu đề như thế này đã gây hoang mang trong dư luận, nhất là những người Công giáo. Vậy thì chúng ta nên hiểu thế nào về việc này?

 

1.        KHÔNG CÓ GÌ MỚI TRONG LẬP TRƯỜNG CỦA ĐỨC THÁNH CHA.

 

Theo tìm hiểu, chúng ta thấy không có gì mới trong lập trường của Đức Thánh Cha về hôn nhân đồng tính. Để chứng minh điều này, chúng ta cùng đọc lại lời của ngài: “Người đồng tính có quyền là một phần của gia đình. Họ là con cái của Chúa và có quyền có một gia đình. Không ai nên bị vứt bỏ, hoặc bị làm cho khốn khổ vì điều đó.” Đây rõ ràng ngài nhấn mạnh về chiều kích mục vụ mà Giáo Hội cần phải phát huy nhiều hơn. Ngài khuyến khích mọi người, nhất là các bậc cha mẹ và người thân không nên tẩy chay, xua đuổi hoặc xa lánh những đứa con được xác định là người đồng tính.

 

Hơn nữa, nếu chúng ta thường theo dõi tin tức của Giáo Hội, chúng ta sẽ hiểu được rằng, Đức Thánh Cha đã nói nhiều lần về ý tưởng này trước đây, nhất là trong chuyến đi mục vụ từ Ai Cập năm 2017, trên chuyến bay về Roma ngài trả lời ký giả về hôn nhân đồng tính, ngài nói: “tôi là ai mà có quyền lên án họ.” Đây dường như là ý nghĩa mà Đức Thánh Cha đã nói về quyền của mọi người, quyền được trở thành một thành phần trong gia đình, cho dù người đó là ai, họ cần phải được tôn trọng và chào đón trong gia đình và cộng đồng. Họ là con cái Thiên Chúa, được tạo dựng bởi Thiên Chúa và giống với hình ảnh của Ngài, thì chúng ta không có quyền xét đoán hoặc kỳ thị bất kỳ ai.

 

2.        NHỮNG NGUY HIỂM TRONG LẬP TRƯỜNG CỦA ĐỨC THÁNH CHA

 

Khi nói về khái niệm kết hiệp dân sự Đức Thánh Cha phát biểu: “Điều chúng ta cần phải có là luật dân sự để công nhận đồng tính; để họ được bảo vệ về phương diện pháp lý.” Như vậy, nói đến cần luật dân sự là để bảo đảm quyền lại của người đồng tính. Vậy quyền lợi đó là quyền lợi nào?

 

Nếu không có giải thích thêm lập trường này sẽ dễ bị hiểu lầm như thể Đức Thánh Cha đồng ý cho hôn nhân đồng tính, vì nhiều người cho rằng đây là quyền căn bản của con người, cần phải được hợp pháp hóa. Dĩ nhiên, cần phải nhấn mạnh, đây là một giải thích hoàn toàn sai lệch, giải thích này chỉ có lợi cho những ai ủng hộ hôn nhân đồng tính mà thôi.

 

Theo CNA, công bằng mà nói, Đức Thánh Cha không nói gì về chủ đề hôn nhân đồng tính trong đại hội phim. Hơn nữa, trong sứ vụ của ngài, “Đức Thánh Cha Phanxicô đã thường xuyên khẳng định giáo lý của Giáo Hội Công Giáo, rằng hôn nhân là mối quan hệ hợp tác trọn đời giữa một người nam và một người nữ” đúng như Giáo lý Giáo Hội Công Giáo đã dạy.

 

3.        NÓI THÊM VỀ LẬP TRƯỜNG CỦA GIÁO HỘI

 

Nếu lập trường của Đức Giáo Hoàng Phanxicô về hôn nhân đồng tính thường được phóng đại để có những hiểu lầm về lập trường của Giáo hội, thì chúng ta cũng nên trở về với lập trường của hai vị Giáo Hoàng tiền nhiệm là Thánh Giáo Hoàng Gioan Phaolô II Giáo Hoàng Bênêđíctô XVI.

 

Năm 2003, trong một văn kiện của Bộ Giáo lý Đức được viết bởi Đức Hồng Y Joseph Ratzinger, sau đó được chấp thuận bởi Thánh Giáo Hoàng Gioan Phaolô II, dạy rằng “sự tôn trọng đối với những người đồng tính luyến ái không thể dẫn đến việc chấp thuận hành vi đồng tính luyến ái hoặc công nhận về mặt pháp lý các kết hiệp đồng tính” (CNA).

 

Như thế, việc tôn trọng, đón nhận và đồng hành với những người đồng tính là một việc làm rất cấp bách, đã có từ lâu trong lời dạy của Giáo Hội. Vì thế Đức Thánh Cha Phanxicô không phát minh gì thêm về một sự kết hợp dân sự là hôn nhân đồng tính, vì đối với đức tin Công Giáo, hôn nhân là một Bí tích, được Thiên Chúa thiết lập giữa “một người nam và một người nữ.” (Bộ giáo luật 1983, điều 1053).

 

Mục đích của hôn nhân là “sinh sản” và “giáo dục con cái” và “chính Chúa Kitô đã nâng giao ước hôn nhân giữ hai người đã được rửa tội lên hàng bí tích” (điều 2333.) Như vậy các kết hiệp dân sự “sẽ che khuất một số giá trị đạo đức cơ bản và làm mất đi giá trị của định chế hôn nhân.” (Vietcatholic)

 

Giáo lý của Giáo Hội Công Giáo còn dạy rằng những người xác định là người đồng tính “phải được đối xử với sự tôn trọng, lòng trắc ẩn và tế nhị. Cần tránh mọi dấu chỉ phân biệt đối xử bất công đối với họ.” (Giáo Luật điều 2357).  Như vậy, việc Đức Thánh Cha Phanxicô đề cập trong chièu kích mục vụ của ngài, và không có gì sai so với giáo lý của giáo hội.

 

Tuy nhiên, theo đánh giá của cá nhân tôi, trong truyền thống của Giáo Hội chúng ta thường hay né tránh đề cập đến những chủ đề nhạy cảm. Ngược lại, trên cương vị Giáo Hoàng, khi Đức Thánh Cha Phanxicô nhận thấy việc quan tâm người đồng tính là một việc làm cấp bách, thì ngài dám công khai bàn thảo, thậm chí đưa ra ý kiến nhằm bảo vệ những bị ky thị trong xã hội, trong đó có  người đông tính. Chính vì thế, ý tưởng của ngài thường được giải thích thái quá hoặc có nhiều sai lệch so với nguyên ý của ngài.

 

Về phía các đấng bản quyền trong Giáo Hội, theo CNA, “một số giám mục bày tỏ rằng các ngài đang chờ đợi sự rõ ràng hơn nữa đối với những bình luận của Đức Giáo Hoàng từ Vatican” Dĩ nhiên, “giáo huấn của Giáo hội về hôn nhân là rõ ràng và không thể sửa đổi, cuộc đối thoại nên được tiếp tục về những cách tốt nhất để tôn trọng phẩm giá của những người trong các mối quan hệ đồng tính để họ không bị phân biệt đối xử một cách bất công.”

 

Vậy, thưa các bạn, là một thành phần của Giáo Hội, chúng ta đang sống trong xã hội có nhiều tranh cãi về đề tài hôn nhân đồng tính. Thiết nghĩ chúng ta cần dành nhiều thời gian hơn để tìm nhiểu thêm và trao đổi với nhau một cách thẳng thán và đầy thiện chí, nhằm giúp chúng ta có một nền tảng luân lý vững chắc và đức tin vững vàng. Vì, trong khi nhiều nhà hoạt động chính trị đang lợi dụng những ngôn từ của Đức Thánh Cha để phục vụ cho lợi ích của họ hay cho đảng phái của họ, thì sự hiểu biết đúng đắn của chúng ta sẽ giúp bảo vệ được giá trị hôn nhân gia đình, nhất là tôn trọng hết mọi người trong gia đình, không phân biệt bất cứ ai.

 

Kính chúc các anh chị và gia đình luôn được bình an và hạnh phúc trong sự quan phòng của Thiên Chúa và Mẹ Maria.

 

Linh mục Antôn Phạm Trọng Quang, SVD

 

Sứ Vụ Truyền Giáo: Lời Cam Kết Của Thành Viên Phong Trào Cursillo

  Sứ Vụ Truyền Giáo: Lời Cam Kết Của Thành Viên Phong Trào Cu rsillo   1.       Dẫn nhập Buổi chiều ngày cuối cùng khóa “khóa ba ngà...