2.9.21

BÀI HỌC TỪ SỰ VIỆC BÀ PHƯƠNG HẰNG KỂ CHUYỆN NHÀ ĐẠO

 BÀI HỌC TỪ VIỆC CHỊ PHƯƠNG HẰNG KỂ CHUYỆN VUI NHÀ ĐẠO


Xưa nay có nhiều người kể chuyện vui nhà đạo khiến người nghe cười ngất ngưởng, tuy nhiên khi bà Phương Hằng kể chuyện về “xưng tội” thì lại khiến nhiều người bất bình, thậm chí còn lên án.

Khi Chị Phương Hằng Kể Chuyện Cười Nhà Đạo

Câu chuyện đại khái được bà Phương Hằng kể như sau:

Có một người vào xưng tội, anh ta xưng rằng: thưa cha hôm qua con có ăn cắp chiếc xe đạp, nên hôm nay con đến xưng tội để được tha thứ. Nghe vậy cha giải tội liền vén màn nhìn anh chàng đến xưng tội và nói: x x (bà Hằng dùng từ tục tĩu) mày dám ăn cắp xe đạp của tao...

Kết thúc câu chuyện bà Hằng còn nói thêm: “Lần sau quý dzị đừng có đi xưng tội nữa nhé.”

Phản Ứng Của Người Nghe

Người ta phản đối, thậm chí lên án bà Hằng, vì nhiều lý do:

Thứ nhấtbà Phương Hằng dám khẳng định chuyện bả kể là có thật, nhưng từ mấy tháng nay ai chẳng biết bả toàn nói chuyện tào lao, đa số là các cuộc đấu đá với những nhân vật nổi tiếng, vì thế không ai dám tin đây là chuyện có thật 100 % như bà nói.

Thứ hai, bà Phương Hằng "đặt" những ngôn từ hết sức tục tĩu vào miệng các linh linh mục khi kể câu chuyện này, trong khi các linh mục không bao dùng những từ thiếu văn hóa như vậy với giáo dân đến xưng tội.

Thứ batrong thời gian nước Việt đang sống trong sự lo âu vì đại dịch, trong khi người Công Giáo đang chia sẻ nhiều câu chuyện cảm động về các tu sĩ, giáo dân và nhiều mạnh thường quân đang xả thân giúp đỡ người khác, nhất là các bệnh nhân, thì bà Phương Hằng lại "gọi tên" người Công Giáo. Vì thế nhiều người cho rằng bà Hằng đang muốn "chế nhạo", hạ thấp thậm chí xúc phạm đến danh dự của người Công Giáo.

Tiếp đócho tới khi bà Phương Hằng bị nhiều người lên án, nhất là những người Công Giáo, trong đó có nhiều linh mục và tu sĩ, thì bả đã CÔNG KHAI xin lỗi. Sau khi xin lỗi bà còn kêu gọi rằng “câu chuyện kết thúc ở đây”. Dĩ nhiên người Công Giáo luôn sẵn sàng tha thứ cho sự “hồn nhiên” của bà Hằng, nhưng cá nhân tôi có cảm giác câu chuyện chưa kết thúc dễ dàng như vậy được, vì có quá nhiều điều còn khập khểnh trong nội dung xin lỗi của bà Hằng. Có người đã nhận xét lời xin lỗi của bà không thật tâm...

Bài Học Thực Tế

Thực ra, suy nghĩ lại, tôi nghiệm thấy có nhiều điều rất đáng học khi sự việc này xảy ra:

1. Ngày nay chúng ta rất khó kiểm chứng những thông tin và nội dung được chia sẻ trên không gian mạng, cho nên cần một sự khôn ngoan để chắt lọc những thông tin hữu ích cho mình. Để làm được như vậy chúng ta cần có một lương tâm trong sạch và một nền tảng luân lý đạo đức vững vàng, nhất là cần dựa vào một niềm tin tôn giáo nào đó làm chuẩn mực.

2. Ngôn từ của nhiều “người nổi tiếng” trên mạng thời nay rất gây bão, thậm chí rất tục tĩu. Nhìn chung nhiều người có vẻ “để yên” cho họ làm mưa làm gió, đến một mức độ nào đó người nghe đã “lên tiếng bênh vực cho lẽ phải”. Như vậy, tiêu chuẩn đạo đức vẫn còn đó trong cuộc sống xã hội chúng ta.

3. Việc bà Hằng dùng nhiều thông tin không chính xác về việc xưng tội và dùng ngôn ngữ tục tĩu thì thật chẳng hay chút nào. Ngay cả trong clip xin lỗi của bà, bà nhầm lẫn linh mục Phạm Quang Hồng là một MỤC SƯ. Thật đáng tiếc cho bà, vì người Công Giáo biết rất rõ về linh mục Phạm Quang Hồng, về cách kể chuyện rất có duyên và có tính giáo dục rất cao của ngài. Với tôi, thực ra đây không chỉ là sai sót của bà Hằng mà là sự cẩu thả của ekip làm việc cho bà. Đáng ra họ phải thu thập thông tin thật chính xác để cung cấp cho bà nhằm tránh các phiền toái không đáng có.

4. Đối với cá nhân tôi, khi có những chủ đề phản nghịch đức tin Công Giáo được đưa ra thảo luận trên mạng, tôi thường phải tìm hiểu cặn kẽ về nội dung và chân lý mà mình đang tin.

Đặc biệt, nhân chuyện bà Phương Hằng kể chuyện vui nhà đạo và phản ứng của người nghe, tôi đọc lại được nội dung của Giáo Luật, trong đó Giáo Luật số 983 dạy rằng: “Ấn tín bí tích là điều bất khả xâm phạm, vì thế, TUYỆT ĐỐI CẤM CHA GIẢI TỘI KHÔNG ĐƯỢC TIẾT LỘ hối nhân bằng lời nói hay bằng cách nào khác, và vì bất cứ lý do gì”.

Trong Sách Giáo Lý Hội Thánh Công Giáo số 1467 còn ghi: “Vì sự thánh thiêng và cao cả rất hiển nhiên của thừa tác vụ này và vì sự tôn trọng phải có đối với con người, Hội Thánh tuyên bố rằng mọi tư tế nghe xưng tội, BẮT BUỘC PHẢI GIỮ BÍ MẬT TUYỆT ĐỐI về các tội mà hối nhân đã xưng với họ, nếu lỗi phạm sẽ bị những hình phạt nghiêm khắc nhất.”

Chúng ta có quyền lên án, có trách nhiệm bênh vực đức tin của chúng ta. Hơn thế nữa mọi tín hữu Công Giáo chúng ta cũng biết dùng cơ hội này để tìm hiểu thêm về nội dung và ý nghĩa của Bí Tích Hòa Giải, đồng thời giúp người khác hiểu rõ về ý nghĩa về đức tin của chúng ta.

Nội dung giáo lý đầy đủ về Bí Tích Hòa Giải có thể tìm đọc trong Sách Giáo Lý Hội Thánh Công Giáo từ số 1422 đến số 1482, hoặc tìm đọc ở đường link dưới đây:

https://augustino.net/giao-ly-cong-giao/

Cuối cùng, với tinh thần yêu thương và hiệp nhất, tôi xin mời mọi người cùng với tôi, tiếp tục cầu nguyện cho cô Phương Hằng nói riêng và cho mỗi người chúng ta nói chung, luôn biết suy tư những điều tốt đẹp, phát ngôn những lời chân thật và làm nhiều việc lành phúc đức, nhằm mang lại lợi ích cho mọi người và cho xã hội.

Kính chúc quý vị luôn tìm được sự bình an trong tâm hồn.


(Bài đăng trên Vietcatholic: https://vietcatholic.net/News/Html/270793.htm)


15.8.21

TÌNH YÊU NÀO LỚN NHẤT?

(Hình sưu tầm)


 TÌNH YÊU NÀO LỚN NHẤT?

 

CHUYỆN VỀ NGƯỜI TÙ KOLBE

Tôi viết lại những dòng này đúng vào ngày lễ nhớ thánh Maximilian Maria Kolbe, linh mục tử đạo người Ba Lan dưới thời Đức Quốc Xã.

Đối với tôi, thánh Kolbe là một tấm gương rất anh dũng, đã sẵn sàng hy sinh đời sống mình để cứu mạng sống của người khác. Tôi được nghe câu chuyện về ngài vào hơn 20 năm trước, trong thời gian nhà tập, khi cha giám tập hướng dẫn chúng tôi đọc và suy tư về cuộc đời của ngài.

Tôi nhớ rất rõ, ngài là một tu sĩ thuộc dòng Phanxicô, có lòng yêu mến Đức Mẹ cách đặc biệt.  Vào thời Đức Quốc Xã, lãnh đạo Hitle giết hại hàng triệu người Do Thái, Cha thánh Kolbe đã dũng cảm đứng lên chống lại tội ác do ông gây ra và để bảo vệ người Do thái. Chính vì thế ngài bị bắt bỏ tù, sau đó được giải đến trại tập trung Auschwitz, gần thành phố Krakow.

Một câu chuyện rất nổi tiếng về cha thánh Kolbe: trong thời gian ngài ở tù, có 3 người tù vượt ngục; theo quy định của nhà tù, phải có 10 tù nhân khác thí mạng, bắt bỏ đói để răn đe. Trong số 10 tù nhân đó, có một thanh niên kêu lên: “Tôi còn có vợ, tôi còn có con thơ dại, xin tha cho tôi.” Nghe vậy, Cha Kolbe động lòng thương, quyết định sẵn sàng chết thay cho anh này.

Trong thời gian biệt giam, cha Kolbe không hề sợ hãi, hơn nữa ngài dâng lễ hàng ngày và động viên các bạn tù cùng hát thánh ca và cầu nguyện trước cai chết. Thật là kỳ diệu, sau 2 tuần bị bỏ đói, chỉ có Cha Kolbe còn sống sót. Các lính cai tù quyết định kết thúc cuộc đời của ngài bằng một liều thuốc độc.

Các chứng nhân kể lại rằng trong khi chờ đợi mũi tiêm ngài đã dơ hai tay lên, hướng mắt về trời cầu xin cùng Đức Mẹ Maria, xin Chúa đón nhận linh hồn ngài vào chốn thiên đường. Lịch sử cũng đã ghi lại, thi thể của Cha thánh Kolbe đã được hỏa táng vào ngày 15 tháng 8, năm 1941, nhằm ngày Lễ Đức Mẹ Hồn Xác Lên Trời.

 

THÁNH MAXIMILIAN KOLBE

Thánh Maximilian Kolbe được tuyên phong chân phước bởi Đức Giáo hoàng Phaolô VI vào năm 1971. Ngài được Đức Giáo hoàng Gioan Phaolô II cất nhắc lên bực hiển thánh vào ngày 10 tháng 10 năm 1982. Đặc biệt, trong thánh lễ phong thánh cho ngài, có sự diện của Franciszek Gajowniczek, bạn tù được thánh Kolbe thế mạng. Anh Franciszek, vợ anh và các con của anh lại là những người được sắp xếp để dâng của lễ trong thánh lễ trọng đại đó.

Sau khi tuyên thánh cho Cha Kolbe, Đức Giáo hoàng cũng tuyên bố rằng Thánh Maximilian Kolbe là một thánh tử đạo thực sự. Ngài được chọn làm bổn của các tù nhân, đặc biệt là tù nhân chính trị, người cai nghiện, gia đìnhnhà báo và các phong trào phò sự sống...

 

HÀNH HƯƠNG VỀ QUÊ HƯƠNG THÁNH KOLBE

Tôi thực sự tạ ơn Chúa với lời chuyển cầu của thánh Kolbe, vì năm 2016 trong chuyến hành hương tới Ba Lan để tham dự đại hội giới trẻ Công giáo toàn thế giới (World Youth Day), tôi đã được đến thăm trại tập trung Auschwitz và đứng trước phòng giam nơi ngài bị biệt giam 2 tuần và nơi ngài làm chứng cho Chúa bằng việc đón nhận cái chết trong anh dũng và hy sinh.

Bạn độc quý mến, Cha thánh Kolbe đúng là một tấm dương anh dũng cho chúng ta. Ngài đã sống lời Chúa, sẵn sàng hy sinh mạng sống cho người khác, để chứng minh rằng: “Không có tình thương nào cao cả hơn tình thương của người đã hy sinh tính mạng vì bạn hữu của mình.” (Ga 15,  13)

 

LỜI NGUYỆN CÙNG THÁNH KOLBE

Vậy, nhờ sự chuyển cầu của thánh Maximilian Maria Kolbe, chúng ta cũng cầu xin Chúa ban cho chúng ta có lòng quảng đại hy sinh, trong mọi hoàn cảnh chúng ta luôn biết sẵn hy sinh thời gian, tình yêu thương và tất cả những gì mình có để mang lại hạnh phúc cho người khác.

Người sống bậc gia đình chúng ta biết hy sinh vì lợi ích của gia đình mình. Người sống đời thánh hiến, chúng ta biết hy sinh và phục vụ cho nhu cầu của cộng đoàn. Người làm lãnh đạo quốc gia gia và các tổ chức tôn giáo, xin cho họ luôn biết đặt lợi ích của cộng đồng trước lợi ích cá nhân và đảng phái, hoặc tổ chức của họ. 

Lạy thánh Maximilian Maria Kolbe, xin cầu cho chúng con.

 

Nhân ngày lễ nhớ thánh Maximilian Maria Kolbe

Linh mục Antôn Phạm Trọng Quang, SVD

TÌNH YÊU NÀO DÀNH CHO NGƯỜI TÌNH GIÊSU?

 TÌNH YÊU NÀO DÀNH CHO NGƯỜI TÌNH GIÊSU?

Có người đặt câu hỏi: tại sao nhiều tu sĩ gọi Chúa Giêsu là người tình, là hôn phu của các nữ tu, thậm chí là hôn thê của các nam tu sĩ? Tại sao người tu sĩ diễn tả đi tu là được “kết hôn” với Chúa Giêsu? Nghe lạ quá. Có ý tưởng phê bình, rằng tại sao các tu sĩ đã đi tu rồi còn có những ý tưởng rất đời thường như vậy?

Xét lại đời tu của mình, tôi tự hỏi, có bao giờ mình có ý tưởng như vậy không nhỉ? Thật sự, chưa bao giờ tôi có suy nghĩ đi tu là một hình thức “kết hôn” với Chúa, cũng chưa bao giờ có những suy nghĩ đối tượng để tôi hiến dâng đời mình được hiểu như một người tình. Tuy nhiên, nhớ lại, cách đây 21 năm, khi tôi khấn dòng, một người dì tặng cho tôi chiếc nhẫn bằng vàng, với lời nhắn nhủ: Con hãy đeo chiếc nhẫn này vào ngón tay, để nhắc nhở chính mình, rằng từ đây con đã thuộc trọn vẹn về Chúa. Hãy sống trung thành và giữ trọn những điều con đã khấn hứa với Chúa trước mặt bề trên con. Tôi chỉ biết cảm ơn về những lời nhắn nhủ rất chân thành của dì và nỗ lực sống trọn lời khấn mình đã khấn hứa, còn chiếc nhẫn vàng, tôi đã đem cho mẹ tôi nhờ mẹ cất hộ, vì tôi không có thói quen đeo nhẫn.

Nhiều lần tham dự lễ khấn của quý sơ, tôi được chứng kiến trong nghi thức khấn dòng, vị chủ tế hoặc các đấng bề trên thường trao cho các khấn sinh chiếc nhẫn, biểu trưng cho sự giao ước giữa các nữ tu và chính Chúa Giêsu. Trong nghi thức này, chủ tế cũng nhắc bảo các khấn sinh, chiếc nhẫn mà các chị mang trên tay là dấu chỉ nhắc nhở các nữ tu đã thuộc trọn về Chúa Kitô và Hội Dòng. Trong chiều kích thiêng liêng đây hoàn toàn là một “cuộc hôn nhân” được thiết lập giữa các tu sĩ và vị tân lang Giêsu. Và để hiểu được ý nghĩa thẳm sâu của giao ước này chúng ta cũng nên đi tìm hiểu những căn nguyên của cuộc “hôn nhân” giữa người tình Giêsu và các tu sĩ.

GIÁO HỘI, TÂN NƯƠNG CỦA CHÚA GIÊSU

Trong truyền thống Kinh Thánh, các tác giả thường diễn tả tương quan giữa Chúa Giêsu và Giáo Hội như là một cuộc hôn nhân, trong đó Giáo Hội được miêu tả như là tân nương hay là hiền thê của vị tân lang trung thành là Đức Kitô. (Kh 19, 8). Khi Giáo hội được ví như một hiền thê của Chúa Kitô thì được hiểu với ý nghĩa chung, chỉ có một tân lang và một hiền thê chứ không theo nghĩa riêng biệt. Không một bản văn nào trong Kinh Thánh diễn tả chúng ta là một hiền thê theo ý nghĩa cá thể của Chúa Kitô. Chúa Kitô là tân lang của Giáo hội, của hết cả mọi thành phần trong Giáo hội, chứ không phải của riêng một ai. Vậy từ bao giờ nhiều người lại cho rằng Giêsu là “người tình” của mình?

NGƯỜI TÌNH GIÊSU

Khái niệm về người tình Giêsu có thể xuất phát từ các nhà tu đức và thần học thần bí về tân nương (bridal mysticism) của thời Trung Cổ. Vào thời điểm đó, có một sự thay đổi lớn về lối lý giải Kinh Thánh, từ ý tưởng cho rằng Giáo Hội là tân nương của Chúa Kitô thành ý tưởng rằng mỗi chúng ta là hiền thê của Ngài. Những nhà tu đức và thần học nổi tiếng trong đó có thánh Catharine thành Siena, Têxa thành Avila, Gioan Thánh Giá, đã ảnh hưởng rất lớn trong đời sống tu đức của Giáo Hội. Điểm đặc biệt của các vị thánh này là có đời sống cầu nguyện liên lỷ và kết hiệp mật thiết với Chúa. Các ngài cũng để lại nhiều tác phẩm nổi tiếng, trở thành những hướng dẫn quan trọng cho các giáo hữu nhất là các tu sĩ về đời sống thiêng liêng và cầu nguyện.

Cụ thể, thánh Têrêxa thành Avila đã từng viết: “Lạy Chúa của con, lạy Đức Lang Quân của con.” Một lời nguyện nói lên sự khiêm tốn nhưng đầy thân mật của chị thánh với Thiên Chúa mà chị hằng tin tưởng và phó thác. Giáo Hội, chính vì thế đã ca ngợi thánh nữ là người đã để Thiên Chúa yêu, trong cuộc đời của mình, chị đã dành một tình yêu say đắm, chị đã đi vào một cuộc hôn nhân huyền nhiệm với Đấng Tình Quân Chí Thánh.

“KẾT HÔN” VỚI GIÊSU

Tiếp đó, trong Giáo Hội, nhiều nữ tu cho rằng việc mình đi tu là “kết hôn” với Chúa Giê-su được phát xuất từ đây. Với tinh thần này, nhiều Hội Dòng, nhất là các Dòng nữ, trong ngày lễ khấn trọn, các sơ khấn sinh không chỉ được nhận chiếc “nhẫn cưới” mà còn được đội lên đầu một vòng hoa trông giống như một cô dâu đã trang điểm rực rỡ trong ngày cưới. Để tìm tài liệu cho bài viết này, khi tôi tìm đọc các trang Công giáo khác nhau trên mạng, tôi đã dễ dàng tìm thấy nhiều bài viết, trong đó các nữ tu ngày nay tin rằng họ đã kết hôn với Chúa Giêsu với một tình yêu và lòng trung thành tuyệt đối. Thật dễ thương, có nữ tu đã diễn tả rằng, Giêsu là một người tình “ga lăng” nhất trên đời để rồi sơ muốn dành trọn tình yêu của mình cho Chúa, chỉ một mình Chúa thôi.

TÌNH YÊU NÀO DÀNH CHO NGƯỜI TÌNH GIÊSU?

Có thể điều chúng ta vừa đề cập nghe rất kỳ lạ đối với nhiều người, tuy nhiên chúng ta nên bàn luận thêm về ý nghĩa của tình yêu mà các tu sĩ dành cho Chúa Giêsu. Tôi xin mượn cách lý giải về ý nghĩa tình yêu theo tư tưởng của người Hy Lạp. Người Hy Lạp cổ hiểu TÌNH YÊU với bốn cấp độ khác nhau, đó là storge (tình cảm tự nhiên), philia (tình bạn và mong muốn thuần khiết), eros (tình yêu có sự ham muốn, tình dục) và agape (tình yêu thánh thiện, tự quên mình).

o   Storge: Được hiểu như là cảm xúc và tình thương giữa cha mẹ, con cái, anh em trong gia đình và họ hàng thân thuộc.

o   Philia: Là một tình yêu có tính đạo đức, được Socrates diễn tả như là “yêu” bao gồm sự trung thành với bạn bè, gia đình và xã hội. Tình yêu này đòi hỏi phải có đức hạnh, sự bình đẳng và tính tự nguyện.

o   Eros: Đây là tình yêu có tính chất nồng nàn và lãng mạn, đôi lúc với sự ham muốn nhục dục. Đối với triết gia Plato, tình yêu này giúp linh hồn thấy được cái đẹp của siêu nhiên, của siêu việt.

o   Agape: Đây là một thứ tình yêu mang tính thánh thiêng và thuần khiết nhất, sâu sắc nhất, là một tình yêu vượt trội và vô điều kiện. Nó sâu sắc hơn tất cả những tình yêu khác vì nó có tính cách chữa lành, viên mãn và hoàn thiện dành cho người mình yêu.

Như vậy, việc các tu sĩ cho rằng mình được “kết hôn” với người tình Giêsu được hiểu như là tình yêu Agape, một tình yêu có tính siêu việt và linh thiêng không hề mang tính tư lợi hay vì dục vọng, cũng không phải một thứ tình thương giữa người thân hay bạn bè. Họ yêu Chúa bằng một thứ tình yêu cao siêu, khiến họ tự nguyện đi đến tận cùng trái đất, bằng tất cả những gì họ có, để phục vụ người nghèo và đồng hành với những người chịu đau khổ.

Kinh thánh sử dụng thuật ngữ này để mô tả tình yêu thương mãnh liệt của Thiên Chúa với loài người, một tình yêu vượt qua mọi sự hiểu biết và vượt qua mọi không gian và thời gian: “Đức Kitô hôm qua, hôm nay và mãi mãi” (Dt 13, 8); “Muôn ngàn đời Chúa vẫn trọn tình thương” (Tv 36, 1).  Kinh Thánh dùng ý tưởng của tình yêu Agape để diễn tả tình yêu của Chúa Giêsu dành cho nhân loại, khiến các tu sĩ phải bỏ hết tất cả để có được tình yêu đó. Như lời miêu tả của Thánh Phaolô: “Tôi coi tất cả mọi sự là thiệt thòi, so với mối lợi tuyệt vời, là được biết Đức Kitô Giêsu, Chúa của tôi. Vì Người, tôi đành mất hết, và tôi coi tất cả như rác, để được Đức Kitô và được kết hợp với Người” (Phi 3, 8-9).

Thật vậy, đây là một tình yêu đang nối kết người tu sĩ với Chúa, tình yêu này dẫn tới sự viên mãn và trọn vẹn như một khúc tình ca mà chúng ta thường hát: “Lạy Đấng Tình Quân con tôn thờ. Con nay thuộc về Chúa, Chúa nay thuộc về con. Mũi tên nào say đắm bắn trúng con tim hồng. Để từ nay con sống là sống cho, cho tình yêu. Và dầu cho con chết là chết cho, cho tình yêu (Linh mục nhạc sĩ Ân Đức).

Ước chi mỗi người chúng ta, nhất là các tu sĩ, luôn biết kết hợp với Chúa trong mọi giây phút của đời thánh hiến, để họ luôn trở thành “tân nương” đích thực của Chúa Giêsu. Xin Chúa luôn đốt nóng ngọn lửa yêu thương, để trái tim của những người đã được thánh hiến luôn thuộc về Chúa, nhờ đó họ sẵn sàng dấn thân, can đảm ra đi loan báo Tin Mừng và phục vụ tha nhân với một tình yêu rất thiêng liêng, thuần khiết và vô điều kiện mà Đấng Tình Quân đã dành cho họ.

Washington DC, ngày 14/7/2021, nhân kỷ niệm 21 năm ngày khấn dòng.

Linh mục Antôn Phạm Trọng Quang, SVD

30.4.21

COVID-19 VACCINES VÀ VẤN ĐỀ LUÂN LÝ LIÊN QUAN NÊN BIẾT

 

(Hình sưu tầm)

COVID-19 VACCINES VÀ VẤN ĐỀ LUÂN LÝ LIÊN QUAN NÊN BIẾT

Covid-19 làm đảo lộn cuộc sống của chúng ta. Covid-19 lấy đi cuộc sống yên bình của toàn thể nhân loại. Nhưng covid-19 khiến chúng ta phải nhìn lại thái độ sống, hành vi cũng như cách cư xử của mình đối với mọi người xung quanh. Covid-9 thậm chí khiến ta phải tự chất vấn lương tâm, có nên ở nhà hay đi ra phố vui chơi, có nên đeo khẩu trang, giữ giãn cách xã hội khi ra đường, có nên đến nhà thờ tham dự thánh lễ hay ở nhà xem lễ trực tuyến, có nên tiêm chủng vaccine hay từ chối vì nhiều lý do?

Vấn đề hôm nay không còn “nên hay không nên” mà chúng ta “phải” làm thế này, làm thế kia, ví dụ phải đeo khẩu trang những nơi công cộng, phải giữa giản cách xã hội và nhiều điều phải làm khác. Nhiều nơi trên thế giới những điều này đã trở nên luật bắt buộc, mọi người phải tuân theo. Tuy nhiên, có nhiều điều chưa được chính phủ đặt thành luật cho nên bắt buộc luật lương tâm chúng ta phải “tự phán xét” và tự tìm ra câu trả lời cho mình, cụ thể nhất gần đây ở Mỹ và nhiều quốc gia Châu Âu, nhiều người đặt câu hỏi: “nên hay không nên chích ngừa vaccine phòng covid-19?”

Dĩ nhiên, đại đa số ai cũng muốn được chích ngừa, thậm chí còn muốn được ưu tiên chích ngừa trước người khác. Ngược lại, vì lý do sức khỏe hoặc vì lý do cá nhân, có nhiều người từ chối chích ngừa. Riêng với người lựa chọn chích vaccine chống covid-19, gần đây trên các phương tiện truyền thông chúng ta thường chia sẻ thông tin đã tiêm vaccine covid-19 liều một, liều hai, hay chỉ chích một liều duy nhất là đủ tùy vào loại vaccine được chọn. Có nhiều người còn dán lên áo miếng giấy “I got my covid-19 vaccine”, tạm dịch là “tôi đã chích vaccine covid-19.” Việc chia sẻ thông tin này có vẻ đã trở thành “mốt,” thậm chí còn rất “sốt” của người dùng facebook, twitter, instagram hay các phương tiện truyền thông khác.

Điều đặc biệt ở Mỹ và nhiều nước Châu Âu, sau khi được chích vaccine, chúng ta được nhận một miếng giấy chứng nhận, trên đó có ghi tên, ngày-tháng-năm sinh, tên vaccine, mã số đăng ký, nơi và ngày chích vaccine.... Miếng giấy này được gọi là “hộ chiếu vaccine” (vaccine passport). Thật là thú vị. Tuy nhiên nó cũng trở nên một đề tài chính trị và thậm chí liên quan đến vấn đề luân lý nữa. Vì nhiều nơi chính phủ đã đưa ra quy định, ai có “hộ chiếu vaccine” mới được lên máy bay, mới được đi tàu, đi xe bus, vào nhà hàng và nhiều nơi công cộng khác. Mục đích của chính phủ các nước là buộc người dân phải chích vaccine nhằm ngăn ngừa bệnh dịch tiếp tục lây lan. Nhưng hình thức này đã tạo nên nhiều sự phản đối gay gắt, vì người phản đối cho rằng họ bị phân biệt và đối xử bất công.  Vì, trên thực tế, những người giàu, những người có cơ thể khỏe mạnh mới được nhận vaccine, còn người nghèo, những người da màu, người không có địa vị thì phải chờ rất lâu mới đến lượt.  

Dẫu trong chúng ta, có nhiều người đã được chích ngừa vaccine, hoặc có nhiều người vì lý do sức khỏe hay vì những lý do cá nhân, chúng ta lựa chọn không chích ngừa. Tin tưởng rằng, cả hai lựa chọn đều rất khó khăn vì hậu của của việc lựa chọn có lúc không tránh khỏi được sự dằn vặt lương tâm và dị nghị của những người xung quanh. Vì thế, với tư cách là người nghiên cứu về luân lý Ki-tô Giáo, sau khi đọc một số tài liệu của Giáo Hội Công Giáo, tôi muốn chia sẻ một vài điều hết sức quan trọng, liên quan đến vaccines phòng covid-19, để mọi người cùng suy tư và có thái độ đúng đắn về vấn đề này.

Những thông tin này được tổng hợp từ bản hướng của Thánh Bộ Giáo Lý Đức Tin về việc sử dụng vaccine covid-19, công bố ngày 21/12/2021; thư chung gửi cộng đồng dân Chúa của Tổng Giáo Phận Washington DC Hoa Kỳ, giải thích về vấn đề luân lý xung quanh việc sử dụng vaccine phòng covid-19, công bố ngày 11/12/2021; thông cáo của Hội Đồng Giám Mục Hoa Kỳ về các vấn đề luân lý khi sử dụng vaccine Johnson&Johnson, công bố ngày 02/03/2021; thư gửi giáo viên, nhân viên và sinh viên trường Đại Học Công Giáo Hoa Kỳ và nhiều bài viết liên quan khác. Nội dung gồm tóm trong năm điểm sau đây:

1.    Giáo Hội luôn khẳng định vai trò và thành tựu của khoa học, vì các nhà khoa học luôn nỗ lực nghiên cứu để tìm ra vaccines, nhằm giúp nhân loại chúng ta phòng ngừa các căn bệnh hiểm nghèo, trong đó có đại dịch covid-19 đã lây nhiễm cho hàng trăm triệu người và khiến hàng triệu người phải chết.

2.    Tuy nhiên, từ trước tới nay, vaccine và chích ngừa vaccine là một chủ đề có nhiều tranh cãi, nhất là trong giới khoa học, triết học, luân lý học và thần học. Vì đa số các loại vaccine ít nhiều có liên quan trực tiếp hoặc gián tiếp đến các tế bào cơ thể con người, các tế bào này đa số được lấy từ cơ thể các em bé bị phá thai.

3.     Giáo Hội Công Giáo chúng ta luôn tôn trọng sự sống của con người. Sự sống bắt đầu từ lúc thụ thai cho tới khi chết cách tự nhiên. Vì thế Giáo Hội không đồng ý với việc phá thai và các hình thức tước đoạt sự sống con người. Giáo Hội không ủng hộ các nhà khoa học lấy các dòng tế bào từ cơ thể thai nhi để chế tạo vaccine.

4.     Tuy nhiên, trước sự nguy hiểm của đại dịch, hơn nữa hiện tại chưa có vaccine nào khác thay thế, cho nên Giáo Hội cho phép chúng ta tiêm chủng các loại vaccine phòng ngừa covid-19. Đặc biệt, chích ngừa vaccine có tác dụng bảo vệ sức khỏe cho chính mình và để bảo vệ sức khỏe cho cộng đồng. Đối với Giáo Hội Hoa Kỳ, đa số các Giáo Phận đều khuyên chúng ta lựa chọn vaccine Pfizer Moderna, và tránh các loại vaccine khác, vì Giáo Hội cho rằng, các dòng vaccine đó còn có nhiều tranh cãi gay gắt về lĩnh vực luân lý.

5.     Với ý kiến cá nhân, thiết nghĩ, sau khi chích vaccine phòng covid-19, chúng ta không nên vui mừng thái quá để “thông báo” về sự “may mắn” của mình, rằng “tôi đã chích vaccine.” Việc chúng ta lựa chọn tiêm vaccine covid-19 trong giai đoạn này thì rất đáng khích lệ. Tuy nhiên chúng ta cũng nên tôn trọng cảm xúc của những ai chưa đến lượt chích vaccine, những ai vì nhiều lý do không thể chích vaccine covid-19, những quốc gia và những dân tộc nghèo khổ không có điều kiện để tiêm vaccine. Hơn nữa, chúng ta cũng không nên bị lôi cuốn bởi các tư tưởng và suy nghĩ có tính chính trị và ý thức hệ, để rồi gây thêm nhiều chia rẽ và phân biệt trong cộng đồng.

Xin nhấn mạnh, chủ đề về vaccine luôn là đề tài nhạy cảm. Theo hiểu biết của người viết, vaccine chống covid-19 sẽ trở thành một đề tài hết sức phức tạp lan rộng cả thế giới. Bài viết này không nhằm mục đích tranh luận như nhiều người đang làm trong thời gian hiện tại, nhưng chỉ muốn truyền đạt một ít thông tin liên quan đến vấn đề luân lý dưới cái nhìn của Giáo Hội.

Dĩ nhiên, khi nói về luân lý, chúng ta thường chú trọng đến vấn đề đúng-sai, tốt-xấu..., nhưng bài viết này còn muốn mời gọi mọi người cần đề cao sự khiêm tốn, tình bác ái yêu thương và tôn trọng lẫn nhau. Thiết nghĩ, những ai nếu được chích vaccine covid-19 rồi, cũng chẳng cần đưa thông tin lên mạng xã hội làm gì, tốt nhất cần tỏ lòng biết ơn bằng cách sống chan hòa với mọi người, dấn thân nhiều hơn, có trách nhiệm hơn trong nỗ lực xây dựng và bảo vệ cộng đồng nơi mình đang sống. Hơn nữa hãy cầu nguyện cho các thai nhi, kiên quyết phản đối việc phá thai, cầu nguyện cho các nhà khoa học, để họ chóng tìm ra nhiều dòng vaccine khác vừa an toàn, vừa hợp với luân lý Ki-tô Giáo.

Xin kính chúc quý vị tiếp tục hưởng một Mùa Phục Sinh tràn đầy niềm vui và hạnh phúc.

 

Washington DC, ngày 30 tháng 4, năm 2021.

Linh mục Antôn Phạm Trọng Quang, SVD

10.4.21

BIẾT ƠN MỘT TÔMA ĐẦY CÁ TÍNH

 


BIẾT ƠN MỘT TÔMA ĐẦY CÁ TÍNH

Ga 20, 19-31

Thánh Tôma được dán cho cái mác là “người kém tin”. Khi Chúa hiện ra, ban bình an và tỏ cho họ biết Ngài đã sống lại, tất cả các tông đồ đều có mặt, còn ông Tôma không hiện diện nơi trong ngôi nhà được đóng kín. Do vậy, khi ông trở về, đồng bạn thuật lại sự kiện Chúa đã hiện ra với họ cho ông nghe, thì ông không tin, thậm chí còn gay gắt tuyên bố: “Nếu tôi không thấy dấu đinh ở tay Người, nếu tôi không xỏ ngón tay vào lỗ đinh và không đặt bàn tay vào cạnh sườn Người, tôi chẳng có tin” (Ga 20, 25). Do thái độ cứng rắn của thánh Tôma, khi Chúa hiện ra cho các ông một lần nữa, lần này Thánh Tôma có mặt ở đó, Ngài mới khiển trách ông là kẻ kém tin.

Nếu theo tường thuật của Tin Mừng, thì không ai chối cãi, Tôma là kẻ kém tin. Nhưng nếu nhìn vấn đề với thái độ thiện cảm hơn, hay nếu ta tìm hiểu nhiều hơn về thái đọ và cảm xúc của thánh Tôma xuất hiện trong các đoạn Tin Mừng khác, thì ta thấy ngài nói như vậy vì là ngài quá yêu mến Chúa và ước mong được gặp thấy Ngài. Ngài nói lời gay gắt với anh em mình chắc chắn vì ngài cảm thấy tiếc nuối cho cái số xui xẻo không may của mình. Có thể thánh Tôma suy nghĩ rằng, tại sao Chúa không cho mình thấy dung mạo của Ngài cách trực tiếp mà lại phải nhờ lời tường thuật của các anh em? Làm sao các anh em được may mắn hơn mình? Bao nhiêu câu hỏi xảy ra trong đầu của ngài khi nghe anh em nói một tin “động trời” là Thầy mình đã phục sinh. Phải chăng ngài đang “ghen tỵ” với các anh em khác?

Điều này cũng dễ hiểu, chẳng hạn khi chúng ta ngưỡng mộ một nhân vật nổi tiếng nào đó, hay khi chúng ta muốn gặp một ai mà lâu nay ta thường mong muốn, bỗng nhiên có người nói nhân vật này vừa ở đây, mới rời khỏi nơi này trong chốc lát. Nếu lúc chúng ta không có mặt đó thì làm sao chúng ta dám tin. Một ví dụ khác, chẳng hạn nếu có ai đó nói rằng hôm qua Đức Giáo Hoàng Phanxicô vừa thăm Việt Nam, họ được gặp và bắt tay với ngài. Làm sao chúng ta tin được tin này, vì Đức Giáo Hoàng thăm Việt Nam lúc này là chuyện khó có thể. Đối với Tôma, việc Chúa hiện ra cho các ông lại càng khó tin hơn, vì Chúa đã báo trước Ngài sẽ Phục sinh và sống lại nhưng sống lại như thế nào từ trước tới nay các ông chưa hề hay biết, hơn nữa nếu Ngài sống lại thì tại sao Ngài không ở lại với các môn đệ lâu hơn mà chỉ hiện ra trong chớp nhoáng?

Nếu lúc đó thánh Tôma tin thì ngài cũng có quyền nghĩ rằng tại sao Thầy mình lại đối xử với mình không công bằng như thế? Tại sao lại không để cho ngài được thấy như các tông đồ khác? Thánh Tôma có quyền suy nghĩ như thế, vì ngài là người rất trung thành và có lòng yêu mến Thầy mình. Kinh thánh có đoạn viết, khi Đức Giêsu muốn vào miền Giuda để chữa cho ông Lazaro sống lại, các tông đồ biết nếu Chúa vào nơi đó sẽ gặp nhiều nguy hiểm, họ biết người Do thái đang tìm cách hại Chúa, họ biết nếu Chúa đi vào đó khác gì tự nộp mạng cho kẻ thù. Vì thế ai nấy đều ngăn cản không muốn Chúa đi vào, trong khi đó, với lòng trung thành và sự dũng cảm, thánh Tôma quả quyết: “Nào chúng ta cũng vào thành để chịu chết với Thầy” (Ga 11: 16).

thể nói, Tôma là một người rất có cá tính, nên trả lời thẳng thắn với các anh em, “nếu tôi không thấy dấu đinh ở tay Người, nếu tôi không xỏ ngón tay vào lỗ đinh và không đặt bàn tay vào cạnh sườn Người, tôi chẳng có tin” (Ga 20, 25). Lời này quả thực một lời thề tốt hay như một thách thức đối với Thầy mình. Tuy nhiên, Chúa biết rõ tâm can của Tôma, Chúa biết rõ ngài là người có lòng ao ước được tận mắt thấy Chúa Phục sinh, nên sau đó tám ngày, khi có mặt đầy đủ các tông đồ thì Chúa hiện ra với họ. Quả thật, khi thấy Chúa, khi Chúa đưa tay, chân và cạnh sườn cho Tôma thấy thì ngài đã thốt lên: “Lạy Chúa của con, lạy Thiên Chúa của con” (Ga 20, 28). Một tình huống “rất Tôma”, nếu trước đây ngài “cứng tin” chừng nào thì bây giờ ngài tỏ ra mạnh mẽ và tôn phục Thầy mình hơn ai hết. Đúng là một người dám sống dám chết, dám nói dám làm, dám hận dám yêu.

Nói cách công bằng, nếu cho rằng, trong lần thứ hai khi Chúa hiện ra với các môn đệ, Ngài trách móc và bảo Tôma “đừng cứng lòng nữa, nhưng hãy tin” (Lc 27), thì ta cũng phải công nhận rằng nhờ thánh Tôma mà chúng ta mới dám tin. Chúng ta phải biết ơn về thái độ cương quyết của ngài, vì nhờ câu nói của ngài mà Chúa đã trực tiếp dạy bảo: “Phúc cho ai không thấy mà tin” (Lc 20, 29). Lời dạy bảo này không chỉ còn dành cho thánh Tôma nhưng dành cho mọi người chúng ta, vì bằng con mắt thịt, chúng ta chưa thấy Chúa bao giờ, phải nhờ con mắt đức tin chúng ta tin rằng Chúa đã phục sinh; Ngài đã được Chúa đưa về trời, ngự bên hữu Đức Chúa Cha, và luôn ban ơn lành cho chúng ta.

Quả thật, phúc cho chúng ta, vì chưa bao giờ chúng ta thấy Chúa nhưng chúng ta đã tin Chúa từ rất lâu, tin cả hàng chục năm và hứa trung thành, nhất quyết không từ chối Chúa bao giờ. Phúc cho chúng ta, khi sống trong thời đại khoa học kỷ thuật con người chỉ biết đi tìm thỏa mạn vật chất và bỏ quên đời sống tinh thần, khi nhiều người dùng khoa học để bác bỏ đức tin, nhưng chúng ta vẫn một mực tin tưởng vào Chúa là Chúa của lòng thương xót. Hạnh phúc lắm thay! Có được hạnh phúc lớn lao thế này, chúng ta càng biết ơn một thánh Tôma đầy cá tính và một mực trung thành.

Xin cho mỗi chúng ta, biết sống khiêm nhường, nghiêng mình trước tạo vật vì biết đó là sản phẩm do bàn tay Thiên Chúa tạo dựng nên. Xin cho chúng ta luôn sẵn sàng mở rộng con tim để đón Chúa ngự vào tâm hồn chúng ta, để Ngài đổ đầy niềm vui Phục sinh cho chúng ta. Và xin cho chúng ta, biết mở rộng con mắt đức tin để thấy được Thiên Chúa hiện diện nơi tạo vật, nơi mọi anh chị em và trong mọi sự.

Linh mục Antôn Phạm Trọng Quang, SVD

Sứ Vụ Truyền Giáo: Lời Cam Kết Của Thành Viên Phong Trào Cursillo

  Sứ Vụ Truyền Giáo: Lời Cam Kết Của Thành Viên Phong Trào Cu rsillo   1.       Dẫn nhập Buổi chiều ngày cuối cùng khóa “khóa ba ngà...