3.4.21

ĐƯỢC GẶP CHÚA, PHẦN THƯỞNG CHO NHỮNG AI BỀN ĐỘ ĐẾN CÙNG

 


(Ga 20, 1-20)

Kinh Thánh kể lại rằng, sau khi sống lại, người đầu tiên được Chúa Giêsu hiện ra, đó là bà Maria Madalêna. Mỗi tác giả Tin Mừng có một cách tường thuật khác nhau, nhưng tất cả đều có một điểm chúng, đó là miêu tả một hình ảnh bà Maria Madalena có một lòng yêu mến Chúa khi Ngài còn sống,bền bỉ chờ điều gì xảy ra sau khi thân xác Chúa được mai táng trong mồ. Nhờ sự kiên trì đó, cuối cùng bà đã được toại nguyện, được nhìn thấy Chúa và được giao cho sứ vụ loan báo Tin Mừng phục sinh

Theo truyền thống, ta thường nghe nhiều giải thích cho rằng Đức Giêsu hiện ra cho người phụ nữ này, vì Ngài biết phụ nữ thường khó giữ được bí mật, chỉ cần nghe biết một thông tin nào họ lập tức sẽ nói cho người khác biết ngay. Điều này nghe rất hợp lý, nhưng có vẻ hơi hạ thấp danh giá của phụ nữ, và được hiểu rằng phụ nữ toàn là đối tượng “lắm chuyện”.

Tuy nhiên, qua lăng kính của các tác giả Tin Mừng, trong suốt thời gian xác Chúa được chôn cất trong mồ, ai nấy đều sợ hãi không dám xuất đầu lộ diện, chỉ có bà Madalena vẫn âm thầm ra mồ chờ xem một tin vui như lời Chúa đã hứa khi xưa. Quả thật Chúa đã cho bà thấy Ngài đã sống lại, bà đã trở thành người đầu tiên loan báo Tin Mừng phục sinh của Ngài. Các thần học gia hiện đại lý giải thêm, nếu Chúa hiện ra với nam giới không chắc họ đã tin và sẵn sàng hối hả chạy đi để tường thuật điều đã xảy ra cho các môn đệ. Tôi thích lối giải thích này, vì nó nói lên được ưu điểm, vai trò, phẩm giá và địa vị của phụ nữ trong xã hội, trong Giáo Hội, nhất là trong sứ vụ loan báo Tin Mừng.

Trở lại với hình ảnh của bà Madalena, rất dễ dàng nhìn thấy, bà là người có một tinh thần gắn bó và tìm kiếm Chúa hết sức bền bỉ. Thánh Kinh cho ta thấy bà chính là người được Chúa chữa cho khỏi bảy quỷ ám và sau đó bà đã theo chân Chúa một cách sát sao. Thánh Kinh cho ta thêm thông tin, khi Chúa Giêsu bị bắt, bị giải đi đóng đanh và khi Ngài bị treo trên thập giá thì có mấy người phụ nữ đứng gần thập giá Chúa, trong đó có Đức Mẹ và bà Maria Madalena (Ga 19, 25). Đến khi xác của Ngài được hạ xuống và chôn cất trong mồ thì bà Madalena còn ở lại đó mà khóc lóc thảm thương (Mt 27, 6).

Người bà thương mến đã không còn nữa và thân xác Ngài đã được mai táng trong mồ. Trước cảnh tượng đó, bà rất đau lòng, ngày đêm khóc lóc và thương nhớ Ngài. Những ngày ấy chắc chắn bà không ăn, không ngủ và bồi hồi đợi chờ Thiên Chúa phục sinh, hay ít nhất bà muốn thấy điều gì sẽ xảy ra, vì hôm ấy đã ngày thứ 3 sau khi Đức Giêsu chịu chết. Bà và mấy người bạn mới ra mồ từ sáng sớm, vừa để được nhìn thấy Chúa, vừa để được chính mắt thấy điều kỳ diệu của Thiên Chúa, vì chính Ngài đã hứa trước kia với họ.

Nhưng tiếc thay khi họ đến thì cửa mồ đã bị mở toang, người mà họ thương mến không còn nữa, chỉ thấy mấy miếng vải dùng để lượm xác còn đặt trong mồ. Nỗi buồn lại càng buồn thêm, lần này thực sự đã đưa đến cho bà Madalena và các bạn sự hoang mang, không những không thấy điều kỳ diệu của Thiên Chúa mà ngay cả thân xác được chôn cất ngay trong nấm mồ này cũng không còn nữa. Các bà lại than khóc...

Họ vừa đau buồn, hoang mang và sợ hãi liền hối hả chạy về báo tin cho các môn đệ. Khi các môn đệ đến mồ thấy cảnh tượng xảy ra như các bà vừa nói. Họ cũng không tránh khỏi sự hoang mang, chẳng hiểu chuyện gì đã xảy ra, và họ đã trở về nhà trong vô vọng.

Điều đáng được nhấn mạnh ở đây, đó là sau khi không thấy xác của Thầy mình nữa thì các môn đệ trở về nhà, còn bà Maria Madalena thì không đành lòng, “bà đứng ở ngoài, gần bên mộ, mà khóc” (Ga 20: 11). Đúng là một sự kiên nhẫn khiến ai nấy phải kính phục, cho dù ai có tuyệt vọng, cho dù những môn đệ, những kẻ thân cận của Đức Giêsu có rời khỏi Thầy mình đi chăng nữa, thì bà Maria Madalena vẫn một mực kiên tâm đợi chờ. Tâm hồn bà mòn mỏi ước mong, tình huống có vẻ rất vô vọng, có vẻ không khả quan chút nào, không phải là bà đang trong cảnh mơ màng mà ai cũng biết sự thật là xác Đức Giêsu không còn đó nữa. Nhưng bà Maria Madalena vẫn cứ đợi, bà nhất quyết không bỏ cuộc tin chắc sẽ có điều gì khả quan hơn. Vì thế, “bà vừa khóc vừa cúi xuống nhìn vào trong mồ” (Ga 20:12).

Một hành động mà chúng ta thường thấy khingười thân chúng ta qua đời, khi thân xác của họ đã được đưa đi an táng, nhưng chúng ta vẫn lặng lẽ ngắm nhìn chiếc giường, chiếc ghế hay nơi mà ngày thường người thân chúng ta thường ở đó. Trong lúc nước mắt của bà Maria Madalena đang đầm đìa, bà nhìn vào mộ, thấy 2 vị thiên thần ngồi đó và họ bắt đầu trò chuyện với bà.

Thiên thần hỏi: Này bà, sao bà khóc?” (Ga 20, 15). Maria thưa: “Người ta đã lấy mất Chúa tôi rồi, và tôi không biết họ để Chúa ở đâu!” (Ga 20, 15).

Nếu theo cách tường thuật của Gioan thì thiên thần vẫn không báo cho bà Maria về sự kiện Chúa đã phục sinh, nhưng ít ra cũng cho chúng ta thấy được bà Maria coi Chúa như là vị thầy, vị Chúa của mình chứ không giống như có người lý giải rằng giữa Chúa Giêsu và bà Maria có một tình cảm nam nữ.

Sau khi nói chuyện với thiên thần, như một linh cảm, bà quay mặt lại, thì nhìn thấy Đức Giêsu đứng đó. Nhưng vì bà đã khóc quá nhiều, vì nước mắt hãy còn đầm đìa khiến bà nhìn không rõ, hoặc thân xác Chúa Giêsu sau khi sống lại đã thay đổi, khiến bà không nhận ra Thầy mình, vì thế bà đã tưởng rằng đấy là một người làm vườn. Nhưng lúc này đúng là lúc sự bền bỉ tìm kiếm của bà được đền đáp. Lúc này đây là lúc lòng mến được lấp đầy, lúc này đây là lúc nỗi đau mất mát của bà được “chữa lành”. Đức Giêsu gọi chính tên bà “M-a-ri-a” (Ga 20, 16).

Một tiếng gọi thân thương như hồi nào Chúa đã dùng để gọi bà, một tiếng nói và âm thanh của Chúa thật là gần gũi để rồi khiến bà hết sức vui mừng mà chạy đến ôm chầm lấy chân Thầy mình và kêu lên “Ráp-bu-ni” nghĩa là “Lạy Thầy” (Ga 20,16). Một niềm vui không giống như một niềm vui bình thường để bà nhảy tưng lên và hét vang như các phụ nữ khác thường tỏ bày. Nhưng là một niềm vui đã trải qua nỗi đau lâu ngày, một niềm vui không dễ dàng được đổi bằng tiếng cười mà phải được tiếp tục bằng những tiếng nức nở dài sau đó. Bà không dám nhìn thẳng vào dung mạo của Thầy, mà sấp mình xuống dưới chân, trước là để tôn kính một vị thầy, sau nữa cũng là để dấu diếm những giọt nước mắt không ngừng rơi vì vui sướng.

Thử đặt lại câu hỏi tại sao bà Maria Madalena lại bền bỉ chờ đợi được như vậy để sau đó được Thiên Chúa tỏ mình ra, được Thầy Giêsu hiện ra báo hiệu sự Phục sinh của Ngài? Sự bền chí không chỉ để tin tưởng vào một điều gì đó sẽ xảy ra trong tương lai, đôi khi nó còn là những kết quả của những kinh nghiệm trong quá khứ. Bà Maria Madalena đã bền bỉ chờ đợi giây phút được nhìn thấy Chúa trong vinh quang, vì trong quá khứ bà được Chúa yêu thương và chữa lành. Trong tâm thức của bà, Đức Giêsu là một vị Thiên Chúa nhân từ bênh vực cho bà và dạy bảo bà “hãy đi và đừng phạm tội nữa” (Ga 8, 11).

Quả vậy, một con người đã bị thần lực ma quỷ thống trị, khiến ai nấy đều ghét bỏ và đòi ném đá cho đến chết. Một tình trạng tưởng chừng như không bao giờ được coi là một con người nhưng nhờ vào lòng nhân từ và tha thứ của Chúa Giêsu, mà cuộc đời của bà Maria Madalena đã được thay đổi hoàn toàn. Nhờ vào sự tin tưởng của Chúa Giêsu bà đã được trở lại làm người, giống như mọi người. Thật vậy, Chúa Giêsu đã trả lại cho bà tất cả: danh dự và phẩm giá của một con người.

Vâng, chỉ có Ngài mới có khả năng và mới sẵn sàng trả lại tự do cho bà, chỉ có tình yêu của Giêsu mới biến đổi được con người của bà. Qua Đức Giêsu bà đã trở nên một con người mới. Như thế, vì được đón nhận một phúc ân quá sức cao quý, chỉ có người đã nhận ra vị ban ân huệ đó cho mình là ai bà mới một mực quyết tâm tin tưởng gắn bó và một mực đợi chờ ngày vinh quang của Ngài.

Quả vậy, khi bà Maria Madalena nhận được niềm vui đó, bà hết sức vui mừng khi nhìn thấy Đấng xuất hiện trước mặt mình chính là Thầy Giêsu. Đấng mà bà yêu mến nay đã phục sinh, đối với bà đây là một niềm vui mừng không thế nào diễn tả. Hơn nữa, khi bà muốn ôm chầm lấy chân Chúa, thì Chúa lại phán với bà rằng: “Thôi, đừng giữ Thầy lại, hãy đi gặp anh em Thầy và bảo họ Thầy lên cùng Cha của Thầy, cũng là Cha của anh em, nên cùng Thiên Chúa của Thầy, cũng là Thiên Chúa của an hem” (Ga 20, 19).

Như thế, niềm vui của bà Maria Madalena phải là niềm vui của hết cả anh chị em. Tin Mừng bà được đón nhận, không chỉ để giữ lại cho riêng mình, nhưng bà đã hối hả đi loan báo cho anh em. Phần chúng ta, nhờ đức tin chúng ta cũng được đón nhận Tin Mừng phục sinh. Đây là một món quà hết sức có giá trị, là niềm vui quả thật lớn lao. Niềm vui đómón quà đó sẽ trọn vẹn hơn khi chúng ta biết sẵn sàng chia sẻ cho anh em. Đây cũng là sứ vụ loan báo Tin Mừng của mọi tín hữu và của Giáo Hội chúng ta.

Linh mục An tôn Phạm Trọng Quang, SVD


Bài đăng trên Vietcatholic news

http://www.vietcatholic.net/News/Html/267323.htm


TRÁI TIM NGƯỜI ĐÀN BÀ ĐỨNG BÊN THẬP GIÁ

 


(Ga 19: 17-37).

 

Bên thập giá Mẹ lặng thầm đứng đó,
Tim nát tan bởi gươm nhọn đâm thâu.
Nhưng tâm hồn dạt dào Ơn Thiên Phước
Lòng tỏ tường kế hoạch Chúa đang đi
Mẹ tri ân được Chúa chọn tham dự
Ave Maria, Mẹ là Mẹ chúng con.

 

Giờ mà Đức Giêsu được treo lên, giờ mà thân xác tàn dại của một vị vua được treo lên là lúc chứng kiến bao hậu quả tốt xấu, sự thật và ý nghĩa của biến cố Đức Giêsu bị treo lên bắt đầu được biểu lộ. Ai sẽ hiểu được điều gì sắp xảy ra, ai thấu hiểu được kế hoạch mà Thiên Chúa đang thực hiện?

Dưới chân thập giá có nhiều
người đang than khóc, có những người đang chiêm ngắm thân tàn của một vị Đức Chúa. Hai bên Đức Giêsu cùng bị đóng đinh có mặt hai tên trộm. Quân lính sau hơn một ngày sống trong cuồng dại cũng chuẩn bị thu xếp vũ khí để rút lui. Dân chúng hãy còn ít người cũng ở lại để chứng kiến một sự kiện chấn động cả trần gian. Tất cả những điều xảy ra lúc này đều được một người đàn bà “chứng kiến và ghi nhớ trong lòng để suy đi nghĩ lại” (Lc 2, 19).

 

Vâng, đứng dưới thập giá lúc này là Mẹ Maria, thánh Gioan và một số người phụ nữ khác. Trước thực trạng con mình bị đóng đinh trần truồng trên thập giá, hơi thở cuối cùng sắp đến, lúc này đã có người không ngừng nói lời nhục mạ cái tên Giêsu, đứa con thân yêu của Mẹ. Họ đay nghiến với Chúa Giêsu với những lời đầy thách thức: “Nếu ông đã cứu được người khác thì hãy cứu lấy mình đi”, hay “Nếu ông là vua dân Do thái, là con Thiên Chúa thì hãy xuống khỏi thập giá đi để chúng tôi tin” (Mt 27, 40). Than ôi ! Mẹ đã chứng kiến trận đòn ác liệt của con, tâm thần đau xót, và trước mặt mình là tấm thân tàn ma dại của người con. Như thế là đã đủ khổ nhục rồi, bây giờ lại còn phải nghe những lời thách thức, cố ý hạ nhục một đứa con thân yêu của mình. Mẹ đau khổ biết chừng nào! Quả thực, lời của ông già Simêon đã được ứng nghiệm, “một lưỡi gươm sẽ đâm thâu trái tim Mẹ” (Lc 2, 35).

 

Nhưng sự kiện Đức Kitô trên thập giá mang đến nhiều thái độ khác nhau. Ít nhất lời của cụ già Simeon ngày xưa nay cũng đã ứng nghiệm “Đứa trẻ này sẽ khiến nhiều người an ủi nhưng cũng là cớ cho nhiều người cấp ngã” (Lc 2, 34). Thật thế, tên trộm bị đóng đinh cùng Đức Giêsu đã nói lên điều này. Kẻ bên tả đã nhục mạ Đức Giêsu rằng: “Nếu ông là Đấng Mêsia thì tự cứu mình đi, và cứu cả chúng tôi nữa” (Mt 27, 40). Những lời thách thức này Đức Mẹ đều nghe hết, nhưng Mẹ vẫn âm thầm không một lời phản bác, sự âm thầm không tiếng than van của Mẹ kéo dài suốt chặng đường khổ giá của con.

 

Trong giây phút âm thầm bên thánh giá, Mẹ cũng chứng kiến những lời tuyên xưng đức tin và thái độ khiêm tốn của người trậm lành khi anh đáp lại lời khiển trách của tên trộm dữ: “Chúng ta chịu thế này thì đích đáng, còn ông này có tội gì đâu” (Lc 23, 41). Hạnh phúc thay kẻ được hồng ân trở lại như người trộm lành này. Phúc thay ai có lòng ăn năn thành thật. Vâng, chính nhờ thế mà ông đã được “Thánh Thần thúc đẩy” mà mở lòng xin cùng Chúa Giêsu: “Ông Giêsu ơi, khi nào ông đến lần thứ hai, xin đừng quên tôi, nhớ đến tôi với” (Lc 23, 42).

 

Thiên Chúa yêu thương kẻ lòng thành, Thiên Chúa ban cho kẻ thật lòng ăn năn và cậy trông vào Ngài nhiều gấp bội, ơn của Ngài ban dồi dào hơn so với mức ta xin: “Hôm nay ngươi đã được ở trên thiên đàng với Ta” (23, 43).


Đức Maria mặc dầu trái tim bị đâm thâu nhưng tâm hồn Mẹ lại được tràn đầy ơn Thiên Chúa, Đức Mẹ bình tĩnh đón nhận tất cả, và từng bước từng bước khám phá những mầu nhiệm mà Thiên Chúa đang thực hiện, quan trọng nhất là Mẹ đã được Thiên Chúa mời cộng tác với chương trình
cứu độ của Ngài. Đức Giêsu cũng không thể quên ơn của Mẹ mình, không thể không đề cao vai trò của Mẹ mình trong việc dẫn dắt “những người tin” nên trong lúc hấp hối Ngài đã nói với Mẹ rằng: “Này Mẹ, đây là con Mẹ”, và nói với môn đệ Ngài thương mến “Này là Mẹ con” (Ga 19, 17).


Đây là một diễm phúc cho những kẻ tin vào Đức Giêsu vừa bị đóng đinh, chịu chết và rời bỏ mẹ mình và học trò của mình, Ngài mong cho mẹ mình được nơi chăm sóc cẩn trọng, mong cho mẹ mình được sống bằng yên. Nhưng về phía phần người làm con, được hưởng một đặc ân là có một người lãnh đạo tinh thần vững chắc. Món quà mà Đức Giêsu trối lại cho con mình (loài người) thật là quí giá. Chẳng phải là sau khi Đức Giêsu bị đóng đinh, chôn cất trong mồ thì các tong đồ và những kẻ tin Ngài đã tản mác khắp nơi, đây là lúc niềm tin của họ bị lung lay, đây là lúc họ sợ hãi, sợ bị liên quan với Đức Giêsu. Bởi thế, Mẹ là niềm cậy tin tốt nhất của họ. Chỉ có Mẹ mới hiểu được ngọn nguồn của biến cố này. Mẹ là trung tâm, là nơi để các con chiên lạc bị tản mác dần dần tìm về.


Trong vòng 40 ngày từ ngày Chúa Giêsu sống lại, Thánh Kinh không tường thuật Đức Kitô có hiện ra cho Đức Mẹ hay không, nhưng sự thật Đức Mẹ là nơi để các môn đệ tin cậy, nơi các Ngài củng cố niềm tin và niềm hy vọng vào Đức Kitô. Công vụ tông đồ ghi lại, trước khi đợi chờ Thánh Thần hiện xuống, các ông đã tụ tập ở Giêrusalem cùng với Đức Mẹ (Cv1:12-14). Khi Giáo Hội chưa thành hình hay sau khi Giáo Hội đã thành lập, Mẹ luôn là Mẹ của Giáo Hội, luôn đồng hành với Giáo Hội để bảo vệ cho được bình an, để đỡ nâng và để củng cố tinh thần. Được hoà nhập trong Giáo hội, mỗi người chúng ta được diễm phúc làm con của Mẹ, nhờ lời trăn trối của Đức Giêsu rằng: “Đây là Mẹ của con”. Phận làm con chúng ta cũng cần yêu mến và vâng lời Mẹ của mình, chạy đến Mẹ hằng ngày.

 

Linh mục Antôn Phạm Trọng Quang, SVD

1.4.21

BỮA TIỆC CỦA NHỮNG CHIA LY

 


BỮA TIỆC CỦA NHỮNG CHIA LY

 

The Last Supper, tiếng Việt dịch làBữa tiệc ly, hay tiếng Hoa được dịch sát nghĩa, với nội dung rất gần gũi, đó“Bữa ăn tối cuối cùng”. Vâng, tiệc ly hay bữa tối cuối cùng khi đây đều muốn diễn tả sau bữa cơm sẽ có một cuộc chia ly. Bữa tiệc này được diễn ra trong bối cảnh người Do Thái tổ chức lễ vượt qua, nhớ lại sự kiện dân Israel ngày xưa được Thiên Chúa giải thoát khỏi ách thống trị của Ai cập.

Kinh Thánh kể rằng đêm trước khi Thiên Chúa dẫn đưa dân Do Thái rời khỏi Ai Cập, Ngài đã sai thiên thần đến từng gia đình Israel bảo họ làm thịt một con chiên, thịt thì chia nhau để ăn và lấy máu bôi trên cửa nhà, để khi thiên thần đi qua, nếu có nhà nào có vệt máu, thiên thần sẽ bỏ qua, còn nếu không thấy vệt máu sẽ đi vào và giết chết con trai đầu lòng trong nhà đó. Chính nhờ như thế con cái của Israel không ai phải chết, nhưng những người bị giết chỉ là con cái người nhà Ai cập.

Buổi tiệc ly hôm nay Đức Giêsu dùng bữa với các môn đệ còn mang một ý nghĩa hết sức cao quý, là một bữa tiệc báo hiệu một cuộc chia ly giữa Đức Kitô và các môn đệ, một cuộc chia ly để Đức Giêsu đi vào cuộc khổ nạn đau thương, hy sinh trên thánh giá, chịu mai táng trong mồ và sau đó được phục sinh. Chiên hiến tế của lễ vượt qua hôm nay không còn là những con chiên thông thường nữa nhưng chính là Đức Kitô, Ngài sẽ là con chiên được sát tế, để khi ai ăn thịt và uống máu Ngài thì sẽ không bao giờ chết.

Chúa Giêsu biết ngày giờ của Ngài đã đến, ngày giờ mà sự căng thẳng giữa người giao truyền “chân lý và những kẻ chối từ chân lý lên đến tột đỉnh. Đức Kitô biết ngày giờ mà Ngài phải được treo lên đang đến rất gần, để minh chứng cho tình yêu Thiên Chúa đã hứa với loài người, để những ai nhìn lên Con Chiên, tin tưởng vào Người thì sẽ được sự sống đời.

Cũng trong cuộc chia ly này, Chúa Giêsu đã nói với những kẻ đi theo người những điều mà họ không ngờ tới. Đặc biệt trong giờ phút linh thiêng này, Ngài dặn dò họ: Các con hãy yêu thương nhau như chính Thầy đã yêu thương các con” (Ga 13, 34)... “Các con hãy rửa chân cho nhau, như chính Thầy đã rửa chân cho các con” (Ga 13, 14). 

Cũng trong bữa tiệc ly này chúng ta sẽ thấy được ai là môn đệ đích thật, ai kẻ phản bội Chúa. Đức Giêsu nói với Phêrô: Nội trong đêm nay con sẽ chối Thầy ba lần trước khi gà gáy” (Ga 13, 38). Rồi cũng cảnh cáo Giuđa như có lần Ngài đã từng cảnh cáo: Chính anh đó (là kẻ nạp Thầy)” (Ga 13, 21). Hãy nhìn xem, cả hai ông Phêrô và Giuđa đều phản lại Thầy, nhưng họ có hai cách phản ứng khác nhau, một kẻ vì thất vọng mà tìm cách treo cổ để kết thúc cuộc đời mình, còn người kia thì hối hận, khóc lóc xin Chúa thứ tha để làm lại cuộc đời.

Cuộc chia ly hôm nay rồi sẽ làm cho nhiều người phải phân tán, khi chủ chiên bị đánh tan tành thì là lúc đàn chiên bị tản mác, kẻ đông người tây lo chạy để thoát thân, thậm chí khi bị phát giác là môn đệ của Chúa Giêsu thì họ từ chối như mưa.

Đức Giêsu cùng với các môn đệ dùng bữa tiệc này đúng là một bữa tiệc rất khác thường, không giống như những gia đình Do thái khác. Không giống như những năm trước, ai nấy vui mừng ăn uống vừa để cảm tạ Thiên Chúa vừa hân hoan nhắc lại việc Chúa cho thoát khỏi ách chế độ tù đày. Bữa tiệc hôm nay là bữa tiệc cuối cùng của Chúa Giêsu và các môn đệ, nhưng không có nghĩa là từ nay những kẻ theo Ngài sẽ không được dùng tiệc vui này nữa mà sẽ được dùng bữa tiệc cao quý hơn, ý nghĩa hơn. Bữa tiệc mà chính hôm nay đây Ngài đã thiết lập. Trong bữa tiệc đó Ngài nói với các môn đệ: “Đây là mình Ta, các con hãy cầm lấy mà ăn, mà phân phát cho nhau... Đây là máu Ta, các con cũng hãy nhận lấy mà uống” (Mc 11, 22-24).

Thật vậy, từ nay những ai dự bàn tiệc này không còn phải uống thứ rượu nho nữa mà là uống chính máu ăn thịt Con Chiên đã được sát tế, đó chính Chúa Giêsu. Bữa tiệc này được thành lập nhằm mục đích cho những kẻ tin vào Con Chiên được đón nhận cách dồi dào, đây cũng là món quà mà chính Thiên Chúa đã dành cho Giáo hội chúng ta.

Mỗi khi Giáo hội cử hành Bí Tích Thánh Thể, là lúc tái hiện sự sát tế con chiên thật sự, chiên được sát tế cũng chính là Đức Kitô. Hết thảy những ai tham dự đều được thông phần vào cuộc dâng hiến của Đức Ki-tô, là dấu chỉ của sự liên đới mật thiết với Thiên Chúa, nhờ vậy họ được dẫn đến bàn tiệc Nước Trời. Đây là mầu nhiệm đức tin, xin cho mọi người chúng ta luôn có một đức tin vững vàng và lòng mến yêu tha thiết để cùng với anh chị em mình tham dự Bí Tích Thánh Thể thật sốt sắng và xứng đáng lãnh nhận ơn lành của Thiên Chúa.

Linh mục Antôn Phạm Trọng Quang, SVD


Bài đăng trên Vietcatholic

http://www.vietcatholic.net/News/Html/267250.htm

13.3.21

Thập Giá Yêu Thương, Thập Giá Cứu Độ

Thập Giá Yêu Thương, Thập Giá Cứu Độ

Suy Niệm Tin Mừng Chúa Nhật IV Mùa Chay – Năm B
(Ga 3,14-21)

 Truyền thuyết Hy Lạp kể rằng con trai của thần Thái Dương Appolo là Esculape, được coi là ông tổ của ngành y dược. Vì ông không chỉ có khả năng chữa bệnh mà còn có thể làm cho người chết sống lại.

Esculape chào đời khoảng năm 1260 trước Công nguyên. Theo truyền thuyết, mẹ ông qua đời khi ông còn trong bụng mẹ nên cha của ông phải mổ lấy con ra khỏi bụng bà. Vì không có mẹ nên cha ông bỏ ông lên núi, ông được dê cho bú và chó canh chừng nên đã sống sót. Lớn lên do bản tính thích quan sát nên ông nhận ra nhiều loài cây dược thảo có thể dùng để chữa bệnh hoặc cải tử hoàn sinh.



Chuyện cũng kể rằng, một hôm nọ, Esculape đang trên đường đi thăm bạn, ông nhìn thấy một con rắn đang tiến về phía mình, ông đưa gậy ra thì con rắn liền quấn quanh cái gậy. Như một cách phản ứng tự nhiên, ông ném cây gậy xuống đất với mục đích giết chết con rắn đi. Nhưng ngay lập tức ông lại thấy xuất hiện một con rắn khác bò tới. Miệng con rắn này ngậm một loài thảo dược dùng để cứu đồng loại của nó. Từ sau đó Esculape đã để tâm đến loài thảo dược này, rồi dùng nó để chữa bệnh cho mọi người.

Dựa vào truyền thuyết trên, ngành y đã lấy hình ảnh con rắn quấn quanh cái gậy để làm biểu tượng cho ngành. Với hy vọng tượng trưng cho sự khôn ngoan, khả năng chữa trị bệnh và kéo dài tuổi thọ của con người.



Câu chuyện về con rắn treo trên cây gậy cũng được đề cập đến trong Cựu Ước ở Sách Dân Số chương 21. Kinh Thánh kể rằng, khi dân Israel chịu cảnh nô lệ bên Ai cập, họ đã kêu cầu xin Chúa giải thoát họ khỏi cảnh tù đày. Thiên Chúa đã nghe tiếng kêu cầu than khóc của họ, nên Ngài đã chọn ông Môsê để dẫn đưa dân Ngài ra khỏi cảnh lưu đày và đưa họ về với vùng đất hứa.

Tuy nhiên trên đường đi họ đã trách móc nặng lời và chống lại Thiên Chúa nhiều lần. Vì thế, Thiên Chúa đã để cho loài rắn độc từ trong sa mạc tiến ra cắn chết nhiều người. Ông Môsê thấy thế liền kêu van Thiên Chúa tha thứ vì sự phản bội và vô ơn của dân, đồng thời xin Người ra tay cứu sống những người bị rắn cắn. Thiên Chúa nhận ra lòng thành và truyền cho ông Môsê đúc một con rắn đồng, treo lên cây gậy, để ai bị rắn cắn mà nhìn lên con rắn đó thì sẽ được cứu sống. Nghe lời Đức Chúa, ông Môsê đã làm như vậy, thế nên dân Israel đã được thoát chết.




 

Con rắn đồng chính vì vậy đã trở thành biểu tượng của lòng từ bi và hay tha thứ của Thiên Chúa. Nhất là trong Tin Mừng của Thánh Gioan chương 3, Chúa Giêsu cũng dùng hình ảnh con rắn đồng nơi sa mạc để so sánh với chính Ngài, Chúa nói: “Như ông Môsê đã dương con rắn đồng trong sa mạc thế nào, Con Người cũng phải được giương cao như vậy, để tất cả những ai tin vào Người, sẽ không bị hủy diệt, nhưng được sống đời đời” (3, 14-15).

Thật vậy, việc Đức Giêsu bị treo lên trên cây thập tự nói lên tình thương của Người dành cho nhân loại, Ngài dùng chính mạng sống của mình để cứu lấy phần rỗi nhân loại chúng ta. Vì sau khi con người phạm tội, phản nghịch cùng Thiên Chúa, Thiên Chúa đã không từ bỏ con người, nhưng sai Con Một của Người là Đức Giêsu Kitô xuống thế làm người để cứu chuộc. Như lời của thánh Gioan tuyên bố: “Thiên Chúa yêu thế gian đến nỗi đã ban Con Một, để ai tin vào Con của Người thì khỏi phải chết, nhưng được sống muôn đời” (Ga 3, 16).

 

Tình yêu đó thật lớn lao, tình yêu của người dám hy sinh mạng sống vì bạn hữu của mình, đó là tình yêu mà Đức Kitô đã dành cho loài người chúng ta (x. Ga 15,13). Thiên Chúa không cần gì khác ngoài việc khao khát chúng ta hướng lòng lên ngài. Còn chúng ta, để đáp lại tình yêu đó, không cần gì khác ngoài việc đặt hết niềm tin tưởng và cậy trông vào Chúa.

Cuộc đời chúng ta gặp đầy những đau khổ và bệnh tật, không quản bệnh về thể xác, tinh thần hay cả tâm hồn. Vì thế, ngoài việc tìm thầy chạy thuốc, chúng ta cũng biết chạy đến cùng Chúa Giêsu để xin Ngài cứu giúp. Thiên Chúa là Cha nhân từ, Ngài không bao giờ ngoảnh mặt làm ngơ nhưng sẽ ghé mắt thương đến chúng ta, như lời Ngài đã hứa: “Anh em cứ xin thì sẽ được, cứ tìm thì sẽ thấy, cứ gõ cửa thì sẽ mở ra cho” (Mt 7,7).

Xin cho chúng ta, khi nhìn lên thánh giá, luôn cảm nghiệm được lòng từ bi hay thương xót của Ngài. Xin cho chúng ta khi nhìn lên thập giá Chúa Kitô, luôn được củng cố niềm tin về quyền năng chữa lành của Chúa. Và xin cho chúng ta, khi nhìn lên Đức Kitô chịu đóng đinh, biết cải đổi tâm hồn, trở về với Chúa tình yêu để được ơn giải thoát và đón nhận ơn cứu độ mà Thiên Chúa đã dành sẵn cho mỗi người chúng ta.

 

Linh Mục Antôn Phạm Trọng Quang, SVD


Sứ Vụ Truyền Giáo: Lời Cam Kết Của Thành Viên Phong Trào Cursillo

  Sứ Vụ Truyền Giáo: Lời Cam Kết Của Thành Viên Phong Trào Cu rsillo   1.       Dẫn nhập Buổi chiều ngày cuối cùng khóa “khóa ba ngà...