24.8.20

Nên Hay Không Nên Cho Bệnh Nhân Ung Thư Biết Bệnh Tình Của Họ?

 Nên Hay Không Nên Cho Bệnh Nhân Ung Thư Biết Bệnh Tình Của Họ?



(Ảnh sưu tầm)
 

Một câu hỏi thường được đặt ra cho chúng ta đó là nên hay không nên cho bệnh nhân, nhất là bệnh nhân ung thư giai đoạn cuối biết bệnh tình của họ? Có nhiều ý kiến trái chiều liên quan đến câu hỏi này, có người cho rằng không nên cho họ biết, có người thì nhất quyết phải cho họ biết, và cũng có người cho rằng tùy thuộc vào tình huống và khả năng đón nhận của bệnh nhân.

1.     Nên hay không nên?

Truyền thống người Châu Á nói chung và người Việt Nam nói riêng, thường cho rằng người nhà nên dấu và không cho bệnh nhân biết về tình trạng bệnh tật, nhất là trong trường hợp khi bác sĩ phát hiện bệnh ung thư của bệnh nhân đã vào giai đoạn cuối. Tuy nhiên theo nguyên tắc chung của ngành y hiện nay, “bệnh nhân phải được thông báo về bệnh tình của họ (Okamura et al, 1988, tr. 1). Bác sĩ là người có trách nhiệm thông báo cho bệnh nhân, giúp họ vượt qua cú sốc tinh thần, đồng thời trong quá trình chữa trị phải bàn hỏi với bệnh nhân để đưa ra cách thức chữa trị tốt nhất, hoặc chuẩn bị những gì cần thiết cho các giai đoạn khó khăn tiếp theo... Dĩ nhiên, “không phải ngay từ đầu bác sĩ có thể nói hết mọi tình tiết cho bệnh nhân, mà các chuyên gia khuyên rằng, mỗi ngày cho biết một ít thông tin, đồng thời giải thích những gì liên quan, nhằm giúp bệnh nhân có khả năng đón nhận tin dữ đang xảy ra cho mình một cách dễ dàng hơn” (Okamura et al, 1988, tr. 2).

Để nói thêm lý do tại sao bác sĩ lại lựa chọn dấu không cho bệnh nhân biết về thực trạng sức khỏe của họ, thông thường bác sĩ cho rằng nếu cho bệnh nhân biết hết bệnh tình, họ sẽ suy sụp tinh thần, thậm chí bệnh nhân có thể nghĩ đến việc tự tử, nên chọn cách báo cho gia đình bệnh nhân là hợp lý nhất. Tuy nhiên, cũng theo nguyên tắc, “gia đình không phải là thành phần duy nhất được biết thông tin và thực trạng của bệnh nhân mà chính bệnh nhân là người phải nắm rõ về tình hình sức khỏe của họ” (Hitoshi, 1988, tr. 2).

Dĩ nhiên, gia đình có vai trò rất quan trọng trong quá trình điều trị cho người bệnh. Vì thế, nhiều chuyên gia khuyên rằng, thông tin về bệnh tình của bệnh nhân nên được nói trước mặt người nhà và bệnh nhân. Nhiều lúc chúng ta lo sợ khi nói sự thật với bệnh nhân họ sẽ sụp đổ tinh thần, tuy nhiên, trên thực tế, nhiều khi “người nhà còn tỏ ra yếu đuối hơn bệnh nhân, cho nên khi nghe tin dữ, người nhà còn dễ sụp đổ hơn” (Goldie, 1982, tr. 128). Vì chỉ có người bệnh mới cảm được sự đau đớn và những gì đang xảy ra trên cơ thể họ, nên khi bác sĩ nói sự thật họ bớt ngỡ ngàng hơn.

2.     KHÔNG nên cho bệnh nhân biết sự thật.

Theo nghiên cứu của giáo sư Gan Yiqun và các nhà khoa học cùng ngành, được biết người Châu Á nói chung và người Việt Nam nói riêng, có đến trên 95%  người được phỏng vấn cho rằng “không nên cho người thân của mình biết về bệnh tình của họ” (Gan et al., 2017, tr. 1460), vì những lý do căn bản sau đây:

1)     Khi biết bệnh nhân của mình mắc bệnh hiểm nghèo, nhất là ung thư giai đoạn cuối, các bác sĩ sẽ chọn cách an toàn nhất, đó là báo cho gia đình bệnh nhân biết. Cách này sẽ tránh được phiền phức cho chính bác sĩ. Nhưng ý kiến này cũng bị phê bình, rằng bác sĩ chỉ nghĩ đến lợi ích của bản thân, nhưng không nghĩ đến quyền lợi của bệnh nhân. Đáng ra bệnh nhân phải được thông báo để họ chọn cách đối phó với thách đố trong quá trình điều trị, thậm chí nếu không chữa trị được thì họ cũng cần biết sự thật để chuẩn bị tinh thần. Nhất là những ai có đức tin, “họ cần được biết để chuẩn bị một cái chết nhẹ nhàng hơn” (Hội Đồng Giám Mục Hoa Kỳ, 2018, số#55).

2)     Tuy nhiên, đối với văn hóa Đông Phương, chết là một điều hủy hoại tất cả, chết là điều cấm kỵ, cho nên tốt nhất chúng ta không nên đề cập điều này trước mặt người bệnh.

3)     Ở Việt Nam mọi chi phí chữa trị đa số đều do người nhà tự lo, hơn nữa vấn đề nên hay không nên tiếp tục chữa trị cho người bệnh đều do người nhà quyết định, vì thế bệnh viện thường chọn cách bàn thảo với người nhà. Hơn nữa bác sĩ “chỉ chú tâm đến việc chữa trị sức khỏe thể lý cho bệnh nhân mà quên đi tầm quan trọng của việc quan tâm đến nhu cầu tâm lý và đức tin cho bệnh nhân” (Gan et al, 2017, tr. 1460).

3.     NÊN nói sự thật cho bệnh nhân

Như chúng ta đã đề cập ở trên, trước đây bác sĩ và người nhà thường dấu bệnh tình của bệnh nhân, nhưng ngày nay, các chuyên gia về y đức cho rằng “chúng ta phải tìm cách để nói sự thật với họ và cho họ” (Goldie, 1996, tr. 75), vì những lý do chính yếu sau đây:

1)     Biết sự thật về bệnh tình của mình là “quyền của bệnh nhân” (Gan et al, 2017, tr. 1461), là quyền lợi căn bản của mỗi cá nhân. Đã là quyền lợi thì nó phải được tôn trọng, không ai được xâm phạm. Ví dụ khi một người biết mình bị ung thư giai đoạn cuối, thì họ có quyền quyết định nên hay không nên tiếp tục điều trị. Nếu tiếp tục điều trị họ cũng có quyền lựa chọn cách chữa trị cho phù hợp. Có nhiều trường hợp người nhà cứ cho rằng còn nước còn tát, nên cứ phải cố gắng bỏ ra biết bao kinh phí nhưng bệnh tình người nhà chẳng có gì giảm bớt, thậm chí vì tiêm quá nhiều thuốc giảm đau, khiến người bệnh trở nên mệt mỏi hay lúc tỉnh lúc mê. Như vậy vừa tốn kém lại vừa kéo dài sự đau đớn của người bệnh.

2)     Khi bác sĩ và người nhà dấu bệnh tình của bệnh nhân, nếu “không may” một ngày nào đó bệnh nhân bất ngờ biết về sự thật bệnh tình của mình, thì họ sẽ bị “shock” nặng hơn, họ cho rằng mọi người dấu diếm và lừa dối họ, họ sẽ không thể tin tưởng vào ai và trở nên giận dữ vì ngay đến người nhà cũng không thật lòng và tôn trọng họ.

3)     Bệnh nhân có nhu cầu được tôn trọng, cảm thông và nắm bắt về bệnh tình của họ. Họ muốn biết thuốc gì đang dùng để điều trị và những tác dụng phụ nào khiến họ phải chịu đựng. Vì ngoài việc phối hợp dùng thuốc, thì họ phải tập cho mình tinh thần lạc quan, nhất là trong trường hợp không thể chữa trị, họ phải sống dựa vào tinh thần và sức mạnh của đức tin. Như trường hợp của Đức Hồng Y Paul Shan ở Đài Loan, khi phát hiện ngài bị ung thư phổi giai đoạn cuối, bác sĩ nói ngài chỉ sống được 4-6 tháng. Sau khi nghe bệnh tình của mình nguy kịch như vậy, ngài quyết định đi một vòng quanh các giáo phận Đài Loan để thuyết trình, gỡ và tạm biệt mọi người. Có lần nghe ngài giảng, tôi đặc biệt cảm động với câu nói: “tôi phó thác bệnh tật cho y bác sĩ, tôi cống hiến thời gian ngắn ngủi còn lại cho anh chị em, còn sự sống của tôi, tôi phó thác cho Thiên Chúa”.  Thật lạ lùng, sau đó ngài sống thêm được hơn 6 năm, thực hiện hàng trăm buổi thuyết trình, và làm rung động hàng triệu con tim.

4)     Như vậy, chấp nhận thực tế và chuẩn bị tâm hồn là bước ngoặt rất khó khăn nhưng rất quan trọng đối với bệnh nhân. Nhất là đối với những ai có đức tin, họ cần nhiều thời gian dành cho Chúa, tĩnh dưỡng tâm hồn và lãnh nhận các bí tích, thậm chí họ cần nhiều thời giờ để cầu nguyện, gặp các linh mục và giáo dân để chuẩn bị đón nhận cái chết, để trở về với Chúa với tin thần tự tin và thanh thản hơn.

4.     Kết luận

Nên hay không nên nói sự thật về bệnh trạng của bệnh nhân, đặc biệt những người được kết luận ung thư giai đoạn cuối là một câu hỏi rất căn bản. Có nhiều ý tưởng khác nhau bàn luận xung quanh vấn đề này, nên quyết định chọn cách nào cũng cần nhiều khôn ngoan và sự can đảm. Thời nay, chúng ta thấy bệnh ung thư ngày càng phổ biến, xung quanh chúng ta, có thể là người quen, bạn bè, hay chính người thân, có nhiều người đang phải vật vã với căn bệnh ung thư hay các bệnh hiểm nghèo khác, chúng ta cũng nên thận trọng suy nghĩ về vấn đề nên hay không nên.

Truyền thống người Việt chúng ta có khuynh hướng không nói sự thật cho người thân biết về tình trạng nguy kịch, nhưng ngày nay các nhà đạo đức y học khuyên chúng ta nên nói sự thật cho họ, vì đó là quyền lợi, vì có là cơ hội để họ đưa ra những lựa chọn và phương cách chữa trị tốt nhất và hợp lý nhất, hoặc để họ chuẩn bị tâm hồn nếu khi quá trình điều trị đã không có hiệu quả. Dĩ nhiên, làm sao để nói sự thật cho người bệnh, ai sẽ nói, nói lúc nào..., là những điều cần được bàn bạc thêm. Người viết hy vọng sẽ được “hầu chuyện” cùng quý vị trong những bài viết sắp tới.

Washington DC, ngày 24/8/2020

Lm. Antôn Phạm Trọng Quang, SVD

----------------------

Tài liệu tham khảo

1.     United States Conference Of Catholic Bishops, Ethical and Religious Directives for Catholic Health Care Services,  Sixth Edition, 2018.

2.     Meilaender, Gilbert. Bioethics: a Primer for Christians. 2nd ed. Grand Rapids, Michigan: W.B. Eerdmans Pub. Co., 2005.

3.     Okamura, H., et al. “Guidelines for Telling the Truth to Cancer Patients. Japanese National Cancer Center.” Japanese Journal of Clinical Oncology, vol. 28, no. 1, Jan. 1998, p. 1–4.

4.     Goldie, Lawrence. “The Ethics of Telling the Patient.” Journal of Medical Ethics, vol. 8, no. 3, Society for the Study of Medical Ethics, Sept. 1982, pp. 128–33.

5.     Gan, Yiqun, et al. “Why Do Oncologists Hide the Truth? Disclosure of Cancer Diagnoses to Patients in China: A Multisource Assessment Using Mixed Methods.” Psycho-Oncology (Chichester, England), vol. 27, no. 5, Wiley, 2018, pp. 1457–63.


Bài đăng trên Vietcatholic

http://www.vietcatholic.net/News/Html/258089.htm


9.8.20

BỎ LẠI SAU LƯNG KHÔNG GIAN HOÀNH TRÁNG

 BỎ LẠI SAU LƯNG KHÔNG GIAN HOÀNH TRÁNG

Mt. 14, 22-33
Linh mục Antôn Phạm Trọng Quang, SVD

D

Theo lời tường thuật của Thánh Matthêu, sau khi thực hiện phép lạ hóa bánh cho năm ngàn người đàn ông chưa kể phụ nữ và trẻ em ăn no nê, thì Chúa Giêsu bắt các môn đệ lên thuyền mà sang bờ bên kia. Một tình huống thật bất ngờ khi các ông đang vui sướng tận hưởng những giây phút thật hoành tráng và đầy danh dự, thì họ buộc phải chấm dứt cuộc vui và rời nơi đó ngay trong đêm tối. Tình huống càng căng thẳng, theo thánh Matthêu, khi chỉ có các ông lên thuyền mà không có sự hiện diện của Chúa Giêsu, vì Ngài đang cầu nguyện một mình trên núi. Trong đêm khuya thanh vắng, thuyền của họ lênh đênh trên mặt biển, hơn nữa thuyền lại gặp gió lớn nên họ bắt đầu bất an và sợ hãi.
Cuộc đời chúng ta nhiều lúc cũng thường chứng kiến những thay đổi bất ngờ như vậy mặc dầu chúng ta không muốn chút nào. Dĩ nhiên, chúng ta ai cũng muốn kéo dài cuộc vui nhưng nhiều lúc chúng ta vẫn thường phải yêu cầu “xuống thuyền ngay và sang bờ bên kia” như các môn đệ của Chúa Giêsu. Câu hỏi đặt ra ở đây là tại sao Chúa lại ra lệnh cho các ông đi ngay như vậy? Theo các nhà lý giải Kinh Thánh, đó là vì Chúa không muốn để các ông sống trong một cảm giác hoang tưởng về một hình ảnh vinh hoa theo cái nhìn của trần thế. Chúa muốn cho các ông lánh xa sự hoành tráng, và ý thức được rằng theo Chúa là phải vác thập giá mỗi ngày mà theo. Bước theo chân Đức Kitô, trở thành tông đồ của Ngài là để phục vụ chứ không phải để được người ta ca tụng.
Tôi nhớ lại, ngày tôi chịu chức, thánh lễ hôm đó có sự hiện diện của hàng trăm linh mục và hàng ngàn giáo giáo dân. Theo thói quen của giáo hội Đài Loan, sau thánh lễ mọi người được mời vào dự tiệc còn tân linh mục thì đứng trong nhà thờ đặt tay cho dòng người xếp hàng để nhận phúc lành của Chúa từ tay tân linh mục. Cảm giác hôm đó thật hạnh phúc, vì tôi là nhân vật chính trong ngày lễ truyền chức, vì tôi nhận được nhiều lời chúc mừng, cũng như nhiều món quà từ người thân và bạn bè. Nhưng chỉ sau vài giờ, mọi người ai nấy về nhà mình. Rồi tôi cũng trở về nhà dòng với một cơ thể mệt lả, nhất là cảm thấy một nỗi cô đơn và trống vắng rất lạ lùng. Cuộc vui sao chấm dứt sớm thế?
MA KÌA
Thánh Matthêu cho chúng ta thấy rằng, khi con thuyền của các môn đệ bị sóng gió trồng trềnh, họ kêu thét lên. Thậm chí khi Chúa Giêsu, người thầy của họ tiến lại gần, mà họ còn la lên “ma kìa” (Mt. 14, 26). Tôi cảm thấy đời sống linh mục của mình thường gặp nhiều tình huống bấp bênh như vậy. Những khát vọng thực hiện các chương trình truyền giáo, những ước mong truyền đạt những kiến thức Kinh Thánh và giáo lý cho người khác nhiều lúc đã trở nên thật hão huyền, thậm chí nó trở nên một thứ “mùi” đắc thắng, trái ngược với lý tưởng của Đức Giêsu. Thực ra khi tôi cố gắng làm việc bằng chính khả năng và sức lực của tôi, điều đó chẳng có gì sai. Nhưng khi tôi dành quá nhiều thời gian cho công việc, ắt hẳn tôi không chú trọng đến thời gian cầu nguyện và nghỉ ngơi. Và khi đời sống truyền giáo của tôi thiếu vắng Thiên Chúa thì đời sống ấy đã gặp biết bao nhiêu gian nan và thử thách. Bởi thế bao toan tính, bao tham vọng này của tôi có lúc đã đi ngược với bản chất và sứ mạng đích thật của Hội Thánh.
ĐỪNG SỢ
Thánh Matthêu kể tiếp, khi thấy các môn đệ lo lắng và sợ hãi như vậy, thì Chúa mới bảo họ rằng, “Cứ yên tâm, chính Thầy đây, Đừng sợ” (Mt. 14, 27). Thật là hạnh phúc cho các tông đồ, trong cơn hốt hoảng thì họ được nghe thấy tiếng trấn an của thầy mình. Chính vì thế mà họ đã lấy lại bình tĩnh, và nỗi sợ đã tan biến khỏi họ. Cuộc sống của chúng ta cũng thật kỳ diệu, không chỉ có những ai sống đời sống thánh hiến, mà cả những ai sống trong đời sống hôn nhân hay độc thân, nhiều lúc chúng ta gặp rất nhiều khó khăn và thử thách, tưởng chừng như chúng ta không thể vượt qua nổi, thậm chí phải bỏ cuộc. Nhưng Thiên Chúa luôn hiện diện bên chúng ta: Ngài dùng người này người nọ để đồng hành, động viên và hướng dẫn chúng ta vượt qua những khó khăn đó. Để rồi những khó khăn và thách đố đó không làm cho chúng ta gục ngã, nhưng lại giúp chúng ta trưởng thành hơn, nhất là càng khiến chúng ta tin tưởng vào Chúa nhiều hơn.
XIN CỨU CON
Một chi tiết nữa rất đáng chú ý trong đoạn tường thuật của thánh Matthêu, đó là khi thánh Phêrô xin Chúa cho ông được đi trên biển mà đến với Ngài, thì Chúa cho ông được như điều ông mong ước. Nhưng vì một chút nghi ngờ, vì một giây phút thiếu đức tin mà ông đã chìm xuống khiến ông phải kêu lên: “Lạy Ngài, xin cứu tôi” (Mt. 14, 30). Lời kêu cứu của Phêrô thật khẩn thiết, là lời cầu nguyện nói lên cậy trông vào Chúa của Chúa Giêsu của ông, mặc dầu ông đã lỡ nghi ngờ. Bởi thế Chúa chỉ nhẹ nhàng quở trách ông là người kém lòng tên, đưa tay kéo ông lên rồi lên thuyền cùng các ông. Thật lạ lùng, sau khi Ngài lên thuyền thì gió yên biển lặng.
Thật vậy, những lời tường thuật của thánh Matthêu trong đoạn Tin Mừng hôm nay mang lại cho ta thật nhiều cảm Xúc thăng trầm. Qua lời tường thuật này, cho chúng ta thấy những thay đổi về cảm xúc và lòng tin của các tông đồ, từ cảm giác sung sướng như trong mơ rồi bị kéo xuống vực sâu. Điều đáng học hỏi ở đây, đó là trong gian nguy thử thách, các ngài đã nhận ra sự yếu đuối của mình và họ đã được Chúa phục hồi niềm tin và tìm được sự bình an.
Điều đã xảy đến cho các tông đồ, cũng mãi là kiểu mẫu và gương soi cho mọi chúng ta. Vì cuộc đời chúng ta không phải lúc nào cũng “hoành tráng”, nhưng thường có những chuỗi ngày thử thách gian truân. May mắn thay chúng ta có niềm tin tôn giáo, chúng ta có Chúa, nên khi gặp phong ba bão táp, chúng ta biết cậy dựa vào Chúa để vượt thắng những thử thách nguy biến đó. Thật thế, chúng ta sẽ chẳng bao giờ đắm chìm, mất hút trong giòng lịch sử, với điều kiện phải cương quyết giữ vững đức tin. Vì, “nếu không gắn bó với Ta, các ngươi sẽ chẳng đứng vững được” (Is 7, 9).
Xin cho mọi người chúng ta luôn biết gắn bó với Chúa. Trong lúc gặp khó khăn hãy học nơi thánh Phêrô mà thưa với Chúa rằng, “Lạy Chúa xin cứu con,” chắc chắn Chúa sẽ trả lời chúng ta: “Hãy yên tâm, Thầy đây, đừng sợ!” Hãy luôn biết cầu xin Chúa “lên thuyền” với chúng ta, ở lại với chúng ta, để đời sống chúng ta tránh được phong ba bão táp và tìm được bình yên. Như thế, thử thách, khổ đau, thất bại không vùi dập hay nhấn chìm chúng ta, mà chỉ là những lời cảnh tỉnh và thanh luyện niềm tin cho chúng ta.

15.7.20

Hành Trang Người Gieo Giống


Hành Trang Người Gieo Giống

Mùa hè là mùa của lễ khấn và lễ truyền chức trong giáo hội. Riêng trong gia tộc của tôi mùa hè năm nay rất vinh dự có bốn sơ, hai thầy khấn lần đầu, một sơ và hai thầy khấn trọn đời trong các dòng Đa Minh, dòng Nữ Tỳ Chúa Thánh Linh, dòng Đồng Công, dòng Xitô, dòng MTG và dòng Don Bosco. Niềm vui và hạnh phúc sẽ tràn ngập trên khuôn mặt các tu sĩ, vì sau nhiều năm đào tạo, họ được trở nên những người gieo giống trong cánh đồng truyền giáo của giáo hội. Đặc biệt sau ngày lễ khấn dòng hay sau thánh lễ truyền chức các tu sĩ sẽ được gửi đến nhiều lãnh vực khác nhau để bắt đầu sứ truyền giáo của họ.

Vâng, niềm vui và hạnh của của người tu sĩ là được sai đi, đi gieo hạt giống. Họ gieo hạt giống lời Chúa khắp mọi nơi. Nhưng thành quả trong công việc gieo giống của họ rồi sẽ không giống nhau. Điều này được Chúa Giêsu lý giải bằng dụ ngôn được ghi chép lại trong Tin Mừng của thánh Mathêu. Chúa nói “Có người ra đi gieo giống, trong khi gieo, có hạt rơi xuống vệ đường, chim trời bay đến ăn mất. Có hạt rơi xuống trên đá sỏi, chỗ có ít đất, nó liền mọc lên, vì không có nhiều đất. Khi mặt trời mọc lên, bị nắng gắt, và vì không đâm rễ sâu, nên liền khô héo. Có hạt rơi vào bụi gai, gai mọc um tùm, nên nó chết nghẹt. Có hạt rơi xuống đất tốt và sinh hoa kết quả, có hạt được một trăm, có hạt sáu mươi, có hạt ba mươi.” (Mt 13, 3-8)

Theo lý giải của Chúa Giêsu, khi lời Chúa được gieo xuống vệ đường, tức là những ai nghe lời Chúa mà không hiểu thì sẽ bị quỷ dữ cướp lấy đi. Trường hợp thứ hai, khi Lời Chúa được gieo trên đá sỏi, đó là người nghe lời giảng, thì tức khắc vui lòng chấp nhận, nhưng không đâm rễ sâu trong lòng, mà vì họ nông nổi nhất thời, nên không khi gặp khó khăn gian truân thì họ lập tức vấp ngã mà quên mất Lời Chúa. Tiếp đến, hạt rơi vào bụi gai, là kẻ nghe lời giảng, nhưng vì lòng họ lo lắng việc đời, ham mê của cải, khiến lời giảng này bị chết nghẹt mà không sinh hoa kết quả được. Cuối cùng, hạt gieo trên đất tốt, là ai nghe lời Chúa mà hiểu được, nên sinh hoa kết trái, thậm chí còn có kết quả dồi dào. (xem Mt 13, 18-23)

Thật vậy, các linh mục và tu sĩ khi được sai đi loan báo Lời Chúa thì ai nấy đều hồ hởi và quyết tâm, nhưng trong thực tế nhiều lúc việc rao giảng của họ không phải bao giờ cũng được như ý muốn. Thậm chí có nhiều lúc họ thất bại nặng nề, vì thế chúng ta hy vọng trong quá trình gieo hạt giống Lời Chúa, người tu sĩ nên chuẩn bị những tinh thần cần thiết sau:

1.        Tinh thần hăng say

Đã là người gieo giống thì các tu sĩ cần phải đi gieo một cách quảng đại và đầy hào phóng, đã là gieo giống thì chỗ nào cũng có thể gieo, tích cực gieo mà không hối tiếc. Giống như ánh sáng mặt trời luôn chiếu sáng cho người công chính cũng như người bất lương. Như mưa đổ xuống trên ruộng người lành cũng như người dữ. Đã đi gieo giống thì thì không chỉ có gieo trên thuở tốt mà thôi, nhưng cứ gieo cả nơi sỏi đá, bên vệ đường và cả bụi gai. Quả thật, điều này không phải vì người tu sĩ thiếu sự hiểu biết hay không tôn trọng hạt giống Lời Chúa, nhưng nói lên tinh thần hăng say, cần mẫn và không tính toán thiệt hơn của họ. Khi đã khấn hứa và quyết tâm dâng hiến đời mình cho Chúa rồi, thì người tu sĩ quyết dành hết thời gian, kiến thức và sức khỏe để đi khắp mọi nơi reo giảng lời Chúa mà không mỏi mệt.

2.        Thái độ khiêm nhường.

Ngoài tinh thần hăng say trong công việc gieo hạt giống Lời Chúa, thì người rao gieo hạt giống Lời Chúa cần học được tinh thần khiêm nhường. Vì khi chúng ta mới bắt đầu công việc rao giảng, nhất là khi chúng ta mới được thọ giáo nhiều kiến thức về tu đức và thần học từ các nhà dòng hay chủng viện, thì ta luôn rao giảng một cách hùng hồn; hơn nữa khi có người sẵn sàng lắng nghe chúng ta, thì ta tưởng rằng mình đã thành công. Tuy nhiên, vì tuổi đời của chúng ta còn non trẻ, chưa có nhiều kinh nghiệm sống để thuyết phục lòng người thì lời giảng của chúng ta có lúc trở nên trống rỗng. Như thế niềm tin của giáo dân vào lời giảng của ta ắt hẳn sẽ suy giảm dần đi, chẳng khác nào hạt giống rơi vào vệ đường hoặc rơi trên sỏi đá, cây mọc lên nhưng vì thiếu nước nên cây dần chết đi. Vì thế, trong bất kỳ hoàn cảnh nào người tu sĩ luôn biết khiêm tốn trong lời mình rao giảng.

3.     Và lòng trung thành.

Khi người tu sĩ gặp phải sự khó khăn và thử thách thì chắc chắn dễ nản lòng, thậm chí tìm cách bỏ cuộc, vì thế họ luôn phải nhắc nhớ chính mình rằng, cần phải kiên tâm trong sứ vụ rao giảng của mình. Người tu sĩ đừng để mình thất vọng về những thất bại lúc hiện tại nhưng biết kiên tâm trông chờ và hy vọng vào một tương lai tươi sáng. Vì không ai hoàn toàn là kẻ “bên lề đường”, “sỏi đá”, hay “bụi gai”, nhưng có lúc  sẽ họ trở nên “mảnh đất tốt” nếu người gieo giống biết chăm chút, để nơi mảnh đất ấy, hạt giống Lời Chúa sẽ được mọc lên, sinh hoa kết trái. Nói cách khác, không ai luôn tìm cách từ chối lời rao giảng của các tu sĩ, nhưng khi người tu sĩ biết kiên trì trong sứ vụ rao giảng của mình thì dần dần người nghe sẽ bị thuyết phục, họ sẽ sẵn sàng lắng nghe và tiếp nhận Lời Chúa.

Xin cho các tu sĩ trong Giáo Hội luôn biết nhiệt thành và hăng say trong việc rao giảng của mình. Đặc biệt, xin cho họ luôn trung thành với sứ vụ rao giảng mà Chúa đã trao phó, để họ vượt qua mọi nghịch cảnh, họ và để công việc rao giảng của họ trở nên hữu ích cho nhiều người.

Mùa hè 2020
Lm. Antôn Phạm Trọng Quang, SVD

13.6.20

ĐỂ MỌI NGƯỜI SỐNG BÌNH ĐẲNG, HÒA HỢP VÀ YÊU THƯƠNG NHAU HƠN.


ĐỂ MỌI NGƯỜI SỐNG BÌNH ĐẲNG, HÒA HỢP VÀ YÊU THƯƠNG NHAU HƠN.

Những ngày gần đây, cả nước Mỹ nói riêng và thế giới nói chung, đang sống trong sự kinh hoàng khi xem đoạn video về một người đàn ông da đen tên là George Floyd bị một cảnh sát người da trắng bắt giữ và ghì chân lên cổ cho đến chết. Sự kiện xảy ra tại thành phố Minneapolis bang Minnesota, Hoa Kỳ vào cuối tháng Năm vừa qua. Sau khi đoạn video được lan tràn trên các phương tiện thông tin đã khiến cộng đồng tức giận và biểu tình đòi công lý cho anh George. Các cuộc biểu tình sau đó đã lan rộng ra nhiều thành phố, không chỉ trong nước Hoa Kỳ mà còn nhiều nơi trên thế giới. Mục đích của các cuộc biểu tình lúc này không chỉ để đòi sự công bằng cho anh George nữa mà để đòi quyền lợi cho những người da đen và chống phân biệt chủng tộc.

Người biểu tình mang khẩu hiệu Black Lives Matter, tạm dịch là “Sự sống của người da đen rất quan trọng”. Tuy nhiên, sau đó, nhiều người cho rằng, không chỉ có sự sống của người da đen quan trọng mà mọi sự sống đều rất quan trọng (All Lives Matters). Rất dễ hiểu, phía sau các câu khẩu hiệu này là một lập trường chính trị của các chính trị gia và các tổ chức đảng phái. Chúng ta không có ý định bàn luận về các lập trường và chủ trương chính trị, nhưng chỉ muốn nêu ra một vài phản tỉnh dưới ánh sáng của đức tin Kitô giáo, và sự dạy dỗ qua các bài đọc Kinh Thánh trong ngày lễ trọng Mình và Máu Thánh Chúa Giêsu.

Tất cả mọi sự sống con người đều bình đẳng và quan trọng như nhau.

Trước hết, sách Sáng Thế cho chúng ta biết, con người là hình ảnh của Thiên Chúa. Con người được Thiên Chúa tạo nên bằng hình ảnh của Ngài. Hơn thế nữa, Thiên Chúa rất hài lòng về công trình Ngài sáng tạo, vì “Thiên Chúa thấy mọi sự Người đã làm ra quả là rất tốt đẹp.” (St 1, 31) Như vậy, trong công trình sáng tạo, Thiên Chúa không bao giờ hối hận về bất cứ thọ tạo nào mà Ngài đã tạo ra, nhất là Ngài yêu thương từng con người và ban cho ai nấy đều có đầy đủ nhân phẩm và giá trị như nhau, không phân biệt màu da, sắc tộc, giới tính ...

Không thể nghi ngờ gì, mọi sự sống con người đều cần được tôn trọng và bảo vệ. Cho nên người Công giáo hoàn toàn đau buồn và mạnh mẽ lên án về hành vi gây nên cái chết cho anh George. Chính Đức Thánh Cha và các giám mục cũng đã công khai bày tỏ sự mất mát của gia đình anh, đồng thời lên tiếng phản đối hình vi sát hại tính mạng con người của các cảnh sát. Ngoài việc lên án, các Giám Mục Hoa Kỳ cũng kêu gọi mọi người biểu tình trong ôn hòa và cầu nguyện cho nạn nhân, nhất là cầu nguyện liên lỉ để loại bỏ việc phân biệt đối xử trong long thế giới.

Thiên Chúa luôn mang lại sự tự do cho con người

Kinh Thánh có nhiều đoạn viết rằng, trong lịch sử của dân tộc Israel, Thiên Chúa luôn tìm cách bảo vệ dân thánh của Ngài và giải phóng họ khỏi mọi cảnh áp bức và đau khổ. Ví dụ như khi dân Israel chịu lưu đày bên Ai Cập, Thiên Chúa đã giải thoát họ và đưa họ đến với miền đất tự do. Cũng vậy, Thiên Chúa luôn mong muốn con người sống trong hòa bình, hạnh phúc và yêu thương nhau. Vì thế, trong tình cảnh thế giới đang bất ổn như ngày hôm nay, chúng ta càng phải tin tưởng rằng, Thiên Chúa đang đồng hành và chia sẻ nỗi lo âu với chúng ta.

Bài đọc một ngày hôm nay nhắc nhớ chúng ta rằng: “Các ngươi hãy nhớ Chúa là Thiên Chúa các ngươi, Ðấng đã dẫn đưa các ngươi ra khỏi đất Ai Cập, khỏi cảnh nô lệ” (Dnl 8, 14). Như vậy, khi các chính trị gia và các tổ chức đảng phái tìm cách lợi dụng những sự kiện đang gây ồn ào trên thế giới để bảo vệ cho lập trường chính trị của mình, thậm chí tìm cách hạ uy tín đối thủ của mình, thì người Công giáo chúng ta cần tuyên xưng và truyền bá hình ảnh một Thiên Chúa đầy tình yêu thương và Ngài luôn bảo vệ sự sống cho nhân loại.

Mọi người liên đới trong tình yêu của Chúa Kitô

Có thể nhiều người trong chúng ta tự hỏi rằng, giữa chúng ta và người da đen hay người da trắng có tương quan gì với nhau? Đức tin Công giáo dạy rằng, chúng ta có tương quan mật thiết với nhau, vì tất cả được tạo dựng bởi Thiên Chúa, bằng hình ảnh của Ngài, hơn nữa chúng ta được kêu gọi trở nên một gia đình nhân loại. Chúng ta được liên kết với nhau bằng tình yêu của Đức Kitô, như lời Thánh Phaolô nói trong thư thứ nhất gửi tín hữu Côrintô: “Chúng ta tuy nhiều người, nhưng cũng chỉ là một thân thể, vì hết thảy chúng ta thông phần cùng một tấm bánh” (1Cr 10, 17).

Vì trong Đức Kitô chúng ta là một cộng đoàn gia đình đoàn kết yêu thương, do đó đứng trước một thế giới đầy sự phân biệt chủng tộc, màu da và văn hóa, Giáo hội cần tích cực cầu xin Chúa Thánh Thần luôn đến và canh tân thế giới này: “Anh em phải để Thần Khí đổi mới tâm trí anh em, và phải mặc lấy con người mới, là con người đã được sáng tạo theo hình ảnh Thiên Chúa để thật sự sống công chính và thánh thiện” (Ep 4, 22-23). Nếu mọi thành viên trong cộng đoàn Kitô hữu biết sống theo thần khí, thì chúng ta sẽ trở thành gương mẫu về sự hòa hợp, yêu thương và tôn trọng lẫn nhau trong lòng thế giới.

Sứ mạng của Kitô hữu đối với sự sống con người

Kinh Thánh còn khẳng định rằng, sau khi tạo dựng thế giới, Thiên Chúa giao cho chúng ta trách nhiệm bảo vệ và chăm sóc thế giới. Vì thế, chúng ta không chỉ lo cho cuộc sống của mình, chúng ta không thể thờ ơ với những gì đang xy ra xung quanh, mà luôn biết quan tâm và chăm sóc mọi sự sống quanh chúng ta, nhất là những ai già nua, những ai đau yếu bệnh tật, những người kém may mắn,... Ngay lúc này, trong thời khắc thế giới có nhiều biến động, từng giây phút chúng ta chứng kiến nhiều bạo lực và bất công trên thế giới, mọi người hãy biết đến với Chúa bằng các giờ cầu nguyện và tham dự thánh Lễ Misa, để đón nhận Đức Kitô là lương thực cần thiết và quý giá cho linh hồn và thể xác của chúng ta.

Chúa phán: “Tôi là bánh hằng sống từ trời xuống. Ai ăn bánh này, sẽ được sống muôn đời. Và bánh tôi sẽ ban tặng, chính là thịt tôi đây, để cho thế gian được sống.” (Ga 8, 51) Nguyện xin Chúa Giêsu Thánh Thể là nguồn sức mạnh bổ dưỡng và nâng đỡ các vị lãnh đạo quốc gia và các tổ chức chính trị, để khi đối phó với biết bao nhiêu đau khổ và thử thách của thế giới họ biết chọn đấu tranh cho chân lý và sự thật. Xin cho mọi người chúng ta cũng biết lấy lời dạy của Chúa và của Giáo hội để tích cực xây dựng một thế giới trong đó mọi người sống bình đẳng, hòa hợp và yêu thương nhau hơn.

Lm Antôn Phạm Trọng Quang, SVD

13.5.20

ĐÂU LÀ MỤC ĐÍCH CUỐI CÙNG CỦA CUỘC ĐỜI?


ĐÂU LÀ MỤC ĐÍCH CUỐI CÙNG CỦA CUỘC ĐỜI?
Gần đây một bạn trẻ gửi cho tôi một đường link về một giảng sư trẻ hiện đang rất nổi tiếng và được nhiều bạn trẻ mến mộ ở Việt Nam. Trong đoạn clip này thầy giảng về “6 Nhu Cầu Cơ Bản Của Con Người”. Xem qua bài giảng thì biết rõ thầy vận dụng tư tưởng của nhà tâm lý học người Mỹ Abraham Harold Maslow (1908-1970), khi ông nói về 6 nhu cầu của con người (Hierarchy of needs). Tất nhiên thầy đã thêm, bớt và chỉnh sửa để cho “thích hợp” với nhu cầu của giới trẻ Việt Nam bây giờ. Thầy đã bỏ đi nhu cầu cao nhất của con người, đó là nhu cầu tâm linh và được thế vào đó là nhu cầu được sống; trong nhu cầu sống thì có tình dục và làm đẹp.
Thực ra ban đầu Maslow chỉ nêu 5 nhu cầu, đó là nhu cầu thỏa mãn thể lý (ăn, uống, ngủ, nghỉ), nhu cầu được sự an toàn (gia đình, sức khỏe, công việc, môi trường sống...), nhu cầu xã hội (giao lưu, chia sẻ, kết bạn, học hỏi kiến thức...), nhu cầu được tôn trọng (muốn được thành đạt, nổi tiếng..), và nhu cầu được thể hiện chính mình (cống hiến và thể hiện khả năng mình có, muốn được công nhận mình thành đạt...). Đến thời gian cuối đời, Maslow thêm một nhu cầu nữa, đó là nhu cầu siêu việt (nhu cầu nhận biết thế giới tâm linh, nhận biết sự mầu nhiệm...) Vì theo ông, nếu con người chỉ tìm cách thỏa mãn 5 nhu cầu đầu tiên mà quên đi nhu cầu tâm linh thì con người sẽ dễ trở nên bệnh hoạn, tàn nhẫn và dễ tuyệt vọng.
Trên thực tế, con người chúng ta luôn đi tìm thỏa mãn 5 nhu cầu đầu tiên, vì 5 nhu cầu này chúng ta có thể đạt được ngay ở đời này. Riêng những người có niềm tin tôn giáo thì họ mới được mời gọi đi tìm thỏa mãn luôn cả nhu cầu thứ sáu. Hay nói cách khác họ không dừng lại ở mức độ và phạm vi của con người mà muốn vươn tới khát vọng nhận biết thế giới của Thần Linh, Thượng Đế hay Thiên Chúa của họ. Các nhà triết học, tâm lý học, kinh tế học, xã hội học, giáo dục học... có thể giúp con người chúng ta đạt được 5 nhu cầu đầu tiên của cuộc đời. Riêng người Công giáo chúng ta, chúng ta còn có các nhà thần học và tu đức học... sẽ hướng dẫn chúng ta đạt tới việc gặp gỡ, nhận biết và tín thác vào Thiên Chúa.
Vâng, các thần học gia từ bao ngàn năm đã xoay quanh chủ đề về cuộc đời và sứ vụ của Đức Giêsu. Theo ngôn từ của thánh Gioan thuật lại Đức Giêsu là vị Chúa sẽ hướng dẫn và giúp chúng ta nhận biết thế giới tâm linh, nhận biết Thiên Chúa Cha, nhận biết sự sống đời đời, vì Ngài là “đường, là sự thật và là sự sống” (Ga14,6). Chúa Giêsu đã đến thế gian, trở thành một con người có xương có thịt như bao người, sống giữa con người, giảng dạy cho con người về chân lý sự sống. Đức tin người Công giáo xác tín rằng Ngài đến thế gian không phải chỉ để hướng dẫn con người đạt được nhu cầu vật chất, kiến thức, tình cảm, hay tương quan xã hội, mà còn giúp con người hướng lên cao để đạt được hạnh phúc đời đời trong nước thiên đàng.
Thánh Gioan đã thuật lại, trước khi chia tay cách môn đệ để chịu bắt bớ và hy sinh trên thánh giá, thì Ngài đã hứa Thiên Chúa sẽ cho Ngài sống lại và sẽ được đưa về trời. Ngài không để ta mồ côi mà Ngài chỉ đi trước để chuẩn bị cho ta một nơi thật xứng đáng như lời ngài đã hứa: “Thầy đi dọn chỗ cho anh em. Nếu Thầy đi dọn chỗ cho anh em, thì Thầy lại đến và đem anh em về với Thầy, để Thầy ở đâu, anh em cũng ở đó” (Ga 14, 2-3). Như thế, sau cuộc đời dương gian này, chúng ta sẽ được diễm phúc về thiên đàng, được diện kiến tôn nhan Thiên, được gặp gỡ Đức Maria, các thiên thần, các thánh và tổ tiên ông bà chúng ta.
Nhưng! Bạn thân mến, khi nhìn xem lại cuộc đời mỗi người chúng ta, ta thấy rằng vì muốn thỏa mãn nhu cầu vật chất, tiền tài, tình yêu, thành công hay danh vọng mà ta phải vất cả từ sáng đến tối. Vì muốn thỏa mãn các nhu cầu trước mắt cho bản thân và gia đình mà ta phải rời xa miền thôn quê lên thành thị, thậm chí rời xa quê hương đất nước để đến một nơi xa quần quật làm ăn. Nhưng chính vì bận rộn mà nhiều lúc ta lai bỏ quên Thiên Chúa, không để ý và chăm sóc đến nhu cầu thiêng liêng của chính mình.
Có bao giờ bạn dừng lại một vài phút giây và suy nghĩ tại sao mình lại bận rộn như vậy? Khi mình đi tìm những thỏa mãn trần thế thì linh hồn mình được cái gì? Khi thỏa mãn được rồi bạn có cảm thấy được bình an trong tâm hồn, có cảm thấy mình được yêu thương như ban đầu không? Có bao giờ bạn nghĩ rằng mình làm việc là làm cho Chúa, và làm cùng Chúa không? Có bao giờ bạn tâm niệm rằng mình vất vả làm việc là để cho Danh Chúa được rạng ngời nơi công việc của mình không? Có bao giờ trước khi làm việc bạn đọc kinh “Sáng Soi” để xin Chúa soi sáng cho bạn từ khởi sự cho đến hoàn thành đều nhờ bởi ơn Chúa không? Mời bạn hãy đọc lời Chúa Giêsu đã từng nói với bạn theo ghi chép của thánh Gioan: “Ai tin vào Thầy, thì người đó cũng sẽ làm được những việc Thầy làm. Người đó còn làm những việc lớn hơn nữa.” (Ga 12, 12)
Vâng, chúng ta là những người đặt niềm tin vào Chúa. Chúng ta là những người muốn trở nên giống như Chúa. Hãy chăm lo làm việc để đạt những nhu cầu cần thiết cho ta, cho gia đình, cho xã hội và cho giáo hội. Chỉ có một điều ta cần bổ sung và xác tín, đó là khi làm bất cứ điều gì ta nên làm vì nhân danh Chúa. Chính Đức Giêsu luôn tìm cách giúp các môn đệ và những ai theo Ngài nhận biết Chúa Cha, thì chúng ta cũng luôn cố gắng để trong mọi lời nói và hành động của mình luôn có “gen” của Giêsu.  
Tóm lại, mục đích cuối cùng của cuộc sống của ta không chỉ nhằm để đạt được các nhu cầu của thế gian này mà thôi, nhưng còn luôn cố gắng hướng tới một cuộc sống mai hậu. Đó là sự khác biệt giữa người có niềm tin và người không có niềm tin. Đó là giá trị của việc loan báo Tin Mừng bằng đời sống, vì: “Cứ dấu này, thì mọi người sẽ nhận biết anh em là môn đệ thầy.” (Ga 13, 35).  Hãy biết cân bằng cuộc sống của bạn và thực thi những gì Chúa dạy. Hãy năng cầu nguyện, tham dự các bí tích và đọc Lời Chúa. Hãy xác tín Chúa là đường, là sự thật và là sự sống của đời sống của bạn, vì đó là niềm hạnh phúc đích thực của đời bạn. Vì chính Chúa đã hứa: “Nếu anh em thực hành, thì thật phúc cho anh em” (Gioan 13, 17).
Lm. Antôn Phạm Trọng Quang, SVD
CHÚA NHẬT V PHỤC SINH NĂM A Gioan 14, 1-12.


30.3.20

COVID-19 VÀ TÌNH YÊU CỦA MUỐI


COVID-19 VÀ CÂU CHUYỆN TÌNH YÊU CỦA MUỐI




Khi tình hình đại dịch Covid-19 trở nên nghiêm trọng, khi tin tức nước Mỹ là nước đứng đầu về con số ca nhiễm bệnh truyền đi khắp nơi, tôi bắt đầu nhận được nhiều tin nhắn và điện thoại thăm hỏi và quan tâm cùng với sự cầu nguyện từ người thân và bạn bè. Tôi báo tin cho mọi người rằng, tạ ơn Chúa, tôi đang sống trong một nơi rất an toàn tại cộng đoàn dòng Ngôi Lời thuộc thủ đô nước Mỹ Washington DC. Đây là nơi có ít người nhiễm bệnh so với New York và các bang khác. Tuy nhiên, để bảo đảm sự an toàn, đã hơn hai tuần nay chúng tôi dừng mọi sinh hoạt bên ngoài, tất cả đều diễn ra trong cộng đoàn, việc học đã bắt đầu bằng trực tuyến.

Nghe vậy ai nấy đều cảm thấy yên tâm, tuy nhiên nhiều người cũng nhắc tôi phải cẩn thận, đặc biệt có nhiều người bảo tôi phải ngậm nước muối hằng ngày vì nước muối có khả năng diệt virus corona. Tôi không phải là nhà khoa học, cũng không phải là bác sĩ để đưa ra lời phán đoán, mà  chỉ nghe theo và thực hiện việc súc miệng bằng nước muối hằng ngày, trước hết để cám ơn những ai đã dành sự quan tâm cho tôi, và cũng để bảo vệ sức khỏe của mình.

Nhân chuyện súc miệng nước muối, tôi nhớ một câu chuyện cổ tích tôi nghe từ lúc còn nhỏ. Chuyện kể rằng, ngày xửa ngày xưa, có một vị vua sinh được ba nàng công chúa xinh đẹp. Thật chẳng may, hoàng hậu lâm trọng bệnh và qua đời khi ba nàng công chúa ấy còn rất nhỏ. Tuy hoàng hậu mất sớm, nhà vua vẫn không lấy hoàng hậu khác, mà ở vậy một mình nuôi dạy ba cô con gái lớn khôn bằng tất cả tình yêu thương của mình.

Một hôm, khi các cô công chúa xinh đẹp đã lớn, vị vua kia cho gọi họ đến để hỏi xem tình yêu họ dành cho vua như thế nào, vua hỏi: “Các công chúa xinh đẹp của cha, các con hãy nói cho cha biết các con yêu cha như thế nào?”

Cô gái thứ nhất đến thưa với vua cha bằng một giọng nói hết sức ngọt ngào: “Thưa cha, tình yêu con dành cho cha ngọt như mật ong ạ.” Vua cha rất vui, hiền bảo cô công chúa: “Con thật có phúc, vì đã dành cho cha thứ tình yêu ngọt ngào như mật ong vậy. Cha sẽ cầu xin Chúa trời chúc phúc cho con.” công chúa thứ hai đến, cũng với giọng nói dịu dàng thưa với vua cha: “Tình yêu của con dành cho cha ngọt như vị đường vậy.” Đức vua cũng vui vẻ khen con gái khôn ngoan và chúc lành cho cô.

Rồi đến lượt cô con út, cô hơi bối rối, vì tất cả những lời đường mật các chị đã nói hết cho vua cha. Nhưng từ xưa tới nay tình thương của cô dành cho vua cha vẫn rất chân thật, và mặc dầu hơi e thẹn nhưng cô cũng can đảm tiến lên thưa với vua cha: “Dạ, tình yêu của con dành cho cha như vị mặn của muối trong thức ăn ạ.” Nghe vậy, hai chị của cô phá lên cười; còn vua cha thì nổi giận và quát: “Tại sao con lại không nói được lời ngọt ngào như hai chị của con? Bao nhiêu năm cha dành tình thương cho con, giờ này con dám đối xử với cha như thế? Hãy đi sa ra khỏi ta với thứ muối của con.”

Khi công chúa nhỏ thấy vua cha tức giận vì lời nói không ngọt ngào nhưng chân thật của mình, một lần nữa cô cũng lấy hết can đảm để xin lỗi vua cha: “Hãy tha thứ cho con, con không cố ý mang lại nỗi buồn cho cha. Xin cha hiểu tình yêu của con dành cho cha cũng giống như các chị” Nghe vậy, nhà vua càng tức giận, quát mắng: “Sao con dám so sánh tình yêu của con với các chị được?” Rồi ông đuổi cô ra khỏi hoàng cung.

Bị đuổi ra khỏi cung điện, công chúa út hết sức buồn bã, cô chỉ kịp lấy vài thứ cần thiết cho mình rồi lủi thủi ra đi. Công chúa đi xa thật xa, tới một nơi mà cô không hề biết đấy là chỗ nào. Qua một vương quốc khác, cô mệt nhoài và đói lả, ngồi nghỉ ở cổng một cung điện rồi cô ngủ thiếp đi. May thay, người giúp việc trong cung điện phát hiện, thấy cô tiều tụy, liền dẫn vào phía trong nhà bếp để chăm sóc và nhận làm người giúp việc cho bà.

Từ ngày vào hoàng cung, cô bắt đầu học nhào bột, làm thức ăn và làm việc với mọi người rất vui vẻ. Vì vậy cô được mọi người trong cung điện yêu quý, đến nỗi chẳng ai chê trách công chúa một điều gì. Tiếng lành đồn xa, sự chăm chỉ của nàng đã truyền đến tai của hoàng hậu, rồi hoàng hậu chọn cô làm người hầu cho mình. Chính nhờ vậy mà cô có dịp gặp hoàng tử trong cung, nhất là chăm sóc cho chàng khi chàng bị thương sau một trận chiến nọ. Hoàng tử bắt đầu yêu mến cô và trình với vua cha và hoàng hậu rằng chàng muốn cưới cô làm vợ.

Sau khi cân nhắc cẩn thận, nhà vua và hoàng hậu đồng ý để hoàng tử kết hôn với công chúa nhỏ. Hôn lễ của họ được tổ chức rất linh đình, khách mời đến cả những nước lân cận, trong đó có vị vua cha của công chúa.

Trong tiệc cưới, khách mời được thưởng thức mọi thứ thức ăn ngon và khoái khẩu. Ai nấy đều vui mừng, nhưng vị vua cha của công chúa khi ăn các món ăn mà công chúa chuẩn bị riêng cho ông, thì vua đùng đùng nổi giận, ông quát: “Sao món gì cũng nhạt như thế?” Lúc này công chúa nhỏ tiến lại gần nhà vua và dịu dàng thưa: “Thưa đức vua, vì các món ăn của ngài chỉ được gia vị bằng vị ngọt của mật ong và của đường, rất tiếc chúng thiếu đi vị mặn của muối mà ngài đã không ưa thích và từ chối ạ.”

Nghe vậy, nhà vua liền nhận ra tân nương ngày hôm đó chính là con gái út của mình. Ông cũng nhận ra rằng, vì giận giữ mà ông đã đánh mất đứa con gái xinh đẹp và thật thà của mình. Ông tự trách mình và mong được cô con gái tha thứ.

Bạn thân mến, câu chuyện trên đây giúp ta học được một bài học rất sâu sắc, đó là cuộc đời của ta thường bị lôi cuốn và hấp dẫn bởi những thứ nghe rất hấp dẫn nhưng thật chóng qua như tiền bạc, bằng cấp, danh vọng, tương quan xã hội, mà quên đi một thứ rất cần thiết đó là sức khỏe của ta. Qua đại dịch covid-19 này, ta chứng kiến có hàng trăm ngàn người nhiễm bệnh và hằng chục ngàn người bị cướp đi tính mạng, ta mới phát hiện ra sức khỏe là một phần rất quan trọng mà xưa nay ta thường lãng quên. Mạng sống của ta là món quà Thiên Chúa ban cho, ta cần biết tạ ơn Ngài, trân quý và bảo vệ món quà này nhiều hơn. Nhiều tiền, danh vọng cao sang, hay bạn bè đông đúc mà đánh mất sức khỏe thì những thứ đó chẳng có nghĩa gì. Mất đi sức khỏe là ta mất đi tất cả, hay khi có sức khỏe là ta làm nên tất cả.

Câu chuyện này cũng giúp ta hiểu được tầm quan trọng của món quà thiêng liêng mà Chúa ban cho nhiều người chúng ta, đó là ĐỨC TIN. Khi đứng trước tình hình đại dịch Covid-19, chắc chắn ai trong chúng ta cũng cảm thấy hoang mang và lo sợ. Riêng cá nhân tôi, tôi cũng đã trải qua những giây phút lo sợ như vậy, nhất là đã hai tháng nay tôi xem tin tức về dịch bệnh từ Trung Quốc, Đài Loan, Nhật Bản, Hàn Quốc và thế giới.

Tôi luôn cầu nguyện cho bệnh dịch nhanh chấm dứt. Nhưng rồi dịch bệnh đã đến ngay trên nước Hoa Kỳ, thậm chí chỉ trong mấy ngày này nó lan truyền khắp mọi tiểu bang. Tôi cảm thấy sự nguy hiểm đã đến rất gần. Như lời của Đức Thánh Cha Phanxicô trong bài giảng của giờ cầu nguyện và ban phép lành Urbi et Orbi hôm 27 tháng 3, rằng: “Những bóng đen dầy đặc phủ trên các quảng trường, các đường phố và thành thị của chúng ta; chúng chiếm hữu cuộc sống chúng ta, làm đầy mọi sự bằng một sự im lặng gây choáng váng và một sự trống rỗng thê lương, làm tê liệt mọi sự khi nó đi qua.” (Vatican News 27/3/20) Vâng, chúng ta đang ở trên cùng một con thuyền, tất cả đều mong manh và mất hướng, (Vatican News 27/3/20)  chúng ta đang đối diện với sự lo sợ bị lây nhiễm căn bệnh Covid-19, thậm chí ta đang đối diện với cái chết chứ không phải ai khác. Bệnh dịch và cái chết đang đến rất gần.

Thật vậy, “Tình Yêu Của Muối” trong chuyện cổ tích được ví như đức tin của ta. Đức tin đóng vai trò rất quan trọng trong đời sống của ta. Như vị vua kia, vì thích nghe những lời đường mật giả tạo mà quên lời nói không mấy dễ nghe nhưng rất chân thành của cô công chúa nhỏ, nhiều lúc ta cung thích chọn lựa những sinh hoạt vui chơi, những cuộc hội tụ bạn bè để ăn uống, hò hét và giải trí mà bỏ quên hoặc từ chối tham dự thánh lễ hay các giờ kinh nguyện. Nhưng trong những lúc gian truân thế này, ta mới cảm nghiệm được vai trò của đức tin, nó giúp ta vượt qua nỗi sợ hãi và cảm giác hoang mang. Những giờ kinh nguyện, những bài thánh ca, đã giúp ta có được sự bình an và nhất là có được những giấc ngủ ngon mà nhiều người không có đức tin không được tận hưởng.

Bởi thế, tôi xin mượn lời Đức Thánh Cha Phanxicô để tiếp tục mời gọi mọi người: “Hãy phó thác cho Chúa những lo sợ của chúng ta để Ngài chiến thắng chúng. Vì sức mạnh của Thiên Chúa là: tất cả những gì xảy ra cho chúng ta, cả những điều bất hạnh, đều mưu ích cho chúng ta. Chúa đưa sự thanh thản vào trong những bão tố của chúng ta, vì với Thiên Chúa, sự sống sẽ không bao giờ chết.” (Vatican News 27/3/20)

Washington DC, ngày 29/3/2020
Lm Antôn Phạm Trọng Quang, SVD

Sứ Vụ Truyền Giáo: Lời Cam Kết Của Thành Viên Phong Trào Cursillo

  Sứ Vụ Truyền Giáo: Lời Cam Kết Của Thành Viên Phong Trào Cu rsillo   1.       Dẫn nhập Buổi chiều ngày cuối cùng khóa “khóa ba ngà...