12.9.20

THA THỨ: KHÓ NHƯNG RẤT CẦN

 

Tha Thứ: Khó, Nhưng Rất Cần!

Mt 18, 21-35



Tôi muốn bắt đầu bài viết bằng một câu chuyện rất có ý nghĩa, rằng có một vị giáo sư dạy tâm lý rất nổi tiếng, ông lại rất có tài giảng thuyết nên được nhiều trường đại học mời giảng dạy. Một hôm, vị giáo sư giảng về chủ đề: “Tập Biết Tha Thứ Để Sống Hòa Hợp Với Anh Em”. Buổi giảng giảng hôm đó có hàng trăm sinh viên đến dự, ai nấy đều tán thưởng phong cách và nội dung giảng dạy của giáo sư. Vừa xong buổi giảng thuyết buổi sáng, giáo sư lại phải vội vã đến thuyết trình tại một trường đại học khác. Khi giáo sư vừa ra khỏi cổng trường, thì gặp một chiếc taxi từ xa phóng tới. May thay giáo sư thắng xe kịp thời, không thì đã xảy ra tai nạn khó lường.

Rõ ràng tài xế taxi có lỗi, anh đã không cẩn thận, đột ngột phóng vào xe của giáo sư, hơn nữa  giữa đường còn có đông người qua lại. Nhưng thay vì nhận lỗi, anh tài xế này lại lớn tiếng quát mắng vị giáo sư: “Này, ông bị đui hay sao mà lái xe bất cẩn như thế?” Nghe lời láo xược thốt ra từ miệng anh tài xế, vị giáo sư kia hết sức tức giận. Ông mở cửa sổ xe, quát lớn tiếng hơn: “Chính anh mới là kẻ đui khi lái xe bạt mạng như vậy trên đường đông người”. Tài xế taxi lập tức xuống xe, thách thức: “Ông có ngon thì ra đây nói chuyện với tôi!” Vị giáo sư kia cũng không vừa, còn muốn đổ thêm dầu vào lửa: “Ra thì ra chứ ta sợ gì anh”.

Nhưng khi vừa ra khỏi xe, giáo sư chợt nhìn thấy một nhóm sinh viên đang từ sân trường bước ra, họ muốn tiến lại gần hiện trường xem chuyện gì đang xẩy ra. Vị giáo sư nhìn thấy sinh viên của mình lập tức nghĩ tới đề tài mình vừa mới thuyết trình “tập biết tha thứ để sống hòa hợp với anh em” xong, nên thay vì tiếp tục tranh cãi hơn thua với gã tài xế kia, ông lấy hết can đảm, tiến đến gần bắt tay anh ta và nhẹ nhàng nói: “Đúng là tôi có lỗi. Anh cho tôi xin lỗi nhé”.

Anh tài xế rất kinh ngạc với thái độ hết sức hài hòa của vị giáo sư, nên thay vì đang trong tư thế sẵn sàng đối phó với đối thủ, anh cũng lập tức hạ giọng, sẵn sàng đưa tay ra, nắm lấy tay vị giáo sư và nói: “Thật sự, cháu cũng có lỗi trong tình huống này. Cháu đã bất cẩn khi lái xe quá nhanh, xuýt gây tai nạn cho bác. Cho cháu xin lỗi nhé”. Sau cái bắt tay xin lỗi làm hòa, cả hai lại vui vẻ lên xe, tiếp tục hoàn thành công việc của mình ngày hôm đó.

Câu chuyện này giúp ta rút ra được nhiều bài học bổ ích, thứ nhất, đã là con người ai cũng có thể mắc lỗi, nên chúng ta cần sẵn sàng tha thứ lỗi lầm cho người khác, để họ cũng bỏ qua những lỗi phạm của chúng ta. Thứ hai, tha lỗi cho người khác là một việc làm rất có lợi ích cho đôi bên, giúp chúng ta sống hòa hợp với anh chị em mình hơn. Và, tha thứ là một việc làm rất khó, nhưng nếu chúng ta sẵn sàng thì sẽ làm được, hay nếu chúng ta dựa vào ơn Chúa, chúng ta sẽ thực hiện được cách dễ dàng hơn. Vì Thiên Chúa là mẫu gương cao quý về sự tha thứ, Ngài là Cha giàu lòng nhân ái, luôn thứ tha mọi lỗi lầm mà con người chúng ta thường vấp phạm. Ngài cũng mời gọi chúng ta “ngươi hãy tha thứ cho kẻ làm hại ngươi, thì khi ngươi cầu nguyện, ngươi sẽ được tha” (Hc 28, 2).

Là Con Người Ai Cũng Có Lỗi

Câu chuyện của vị giáo sư và anh tài xế không chỉ giúp chúng ta hiểu được đã là con người thì ai cũng có nhiều sai sót, hay tức giận và dễ nổi cơn thịnh nộ, thậm chí chúng ta còn thấy được những thiếu sót và giận dữ đó có lúc khiến cho chúng ta đi đến những hành động hết sức sai lầm và nguy hiểm. Quả thật, trong tương quan với tha nhân và với Chúa, chúng ta có rất nhiều thiếu sót và dễ giận hờn, nhưng sách Huấn ca nhắc nhở rằng “thịnh nộ và giận dữ, cả hai đều đáng ghê tởm, người có tội thì mắc cả hai” (Hc 27, 33). Vì vậy, trong những cơn thịnh nộ, giận dự, thiếu sót và lỗi lầm đó, chúng ta cần học thứ tha hơn là ghen ghét và hận thù. Hơn nữa, ta cần biết sống khiêm tốn và tập nói lời “xin lỗi” mỗi lúc ta làm phiền lòng anh chị em mình.

Thiếu sót thì muôn vàn và lỗi lầm thì ngày nào chúng ta cũng đều mắc phạm. Vì thế, ngoài vấn đề ý thức sự yếu đuối của mình, ta cũng cần mong anh chị em ta tha thứ và bỏ qua cho. Hơn nữa, tha thứ ở đây không phải chỉ tha một lần, hai lần, ba lần hay bảy lần như suy nghĩ của thánh Phêrô, mà chúng ta cần được tha thứ đến “bảy mươi lần bảy” (Mt 18, 22) như mong muốn của Chúa Giêsu. Nghĩa là chúng ta cần được tha mãi, cũng như cần tha thứ cho anh em mình không bao giờ có giới hạn.

Ích Lợi Của Việc Tha Thứ

Trở lại với câu chuyện ban đầu, lời nhận lỗi đã có khả năng giải quyết mâu thuẫn và phân tranh giữa vị giáo sư và anh chàng tài xế. Chỉ cần một lời xin lỗi chân thành mà thôi mà họ đã biến họa thành phúc, biến đấm đá thành một cái bắt tay thật chặt. Thế thì tại sao ta lại không sẵn sàng nhận lỗi để mọi mâu thuẩn được giải quyết êm thỏa, tránh phiền hà, tốn sức khỏetốn thời gian để tranh cãi hoặc tốn tiền cho việc thuê luật sư theo đuổi những vụ kiện tụng trong tòa án?

vẻ như ngày hôm nay chúng ta đang sống trong một môi trường đầyô nhiễm, sặc mùi hận thù và ghen ghét. Thế giới không ngày nào hết chiến tranh, quốc gia và dân tộc không bao giờ hết những căng thẳng hận thù. Khu phố, làng xã, xóm giềng và ngay cả trong gia đình không bao giờ ngớt cãi vã và đánh đập lẫn nhau. Con trai con gái bất đồng với cha mẹ, mẹ chồng với nàng dâu, ngay cả anh chị em ruột thịt trong gia đình cũng chẳng bao giờ hết lời cãi cọ, thậm chí từ mặt nhau. NhưngKitô hữu, làm sao chúng ta có thể sống với nhau mà không biết tha thứ cho nhau được? Sách Huấn ca còn đặt câu hỏi cho chúng ta “người này tích lòng giận giữ người kia, mà dám cầu xin Thiên Chúa được sao” (Hc 28, 2)?  

Quả thực, điều khó khăn khiến ta không dám nhận mình sai và không muốn nói ra lời xin lỗi, đó là sự tự ái, đó là sự ích kỷ, hoặc do tính kiêu căng và tự mãn của mình. Nhưng khi ta can đảm nhận lỗi, là lúc ta vượt thắng được “cái tôi” cá nhân rồi. Làm sao để xin lỗi ư? Chúng ta có thể dùng nhiều phương cách, hoặc là nói trực tiếp với người anh em, hoặc là dùng cách viết thư, nhắn tin, hay nhờ một ai đó truyền đạt lời xin lỗi và tha thứ của mình. Chỉ cần chúng ta sẵn sàng và chân thành nói lời xin lỗi, chúng ta sẽ làm được. Khi nói ra được lời xin lỗi, khi ta sẵn sàng tha thứ cho ai, tâm hồn ta sẽ cảm thấy nhẹ nhàng và thoải mái hơn, hơn nữa chúng ta sẽ thiết lập lại mối tương quan mật thiết với chính anh em mình.

Thiên Chúa đã tha thứ cho chúng ta trước.

Cho dù cuộc đời của chúng ta có gặp bao nhiêu bất hòa với anh em, hay chúng ta chứng kiến bao nhiêu hận thù giữa người này với người kia, nhưng chúng ta luôn nhớ mình được Chúa mời gọi sống yêu thương và tha thứ cho nhau. Vì yêu thương nhau là dấu chỉ mà người khác sẽ nhận ra chúng ta là môn đệ của Chúa (xem Ga 13, 35). Dẫu biết rằng để thực hiện được lời Chúa mời gọi thì rất khó, nhưng chúng ta đã có Chúa là mẫu gương luôn khoan dung tha thứ thì chắc chắn chúng ta sẽ thực hiện được. Dụ ngôn trong Tin Mừng ngày hôm nay đã giới thiệu về hình ảnh một Thiên Chúa luôn hết mực tha thứ và yêu thương chúng ta.

Thánh Matthêu kể lại: “Nước Trời cũng giống như ông vua kia muốn tính sổ với các đầy tớ. Trước hết, người ta dẫn đến vua một người mắc nợ mười ngàn nén bạc. Người này không có gì trả, nên chủ ra lệnh bán y, vợ con và tất cả tài sản của y để trả hết nợ. Người đầy tớ liền sấp mình dưới chân chủ và van lơn rằng: Xin vui lòng cho tôi khất một kỳ hạn và tôi sẽ trả cho ngài tất cả. Người chủ động lòng thương, trả tự do và tha nợ cho y. Nhưng vừa ra đến ngoài, tên đầy tớ ấy gặp một người đồng bạn, mắc nợ y một trăm quan tiền. Y liền túm lấy, bóp cổ mà bảo: Trả nợ cho tao (Mt 18, 23-27).

Người đời thì cứ phải “mắt đền mắt, răng đền răng” hay phải “ăn miếng trả miếng” mới thỏa lòng hả dạ, còn Thiên Chúa, Người là Cha nhân từ, luôn tỏ lòng xót thươngsẵn sàng tha thứ mọi tội lỗi cho ta, muốn chúng ta luôn biết tha thứ lỗi lầm cho nhau. Tha thứ là điều cần thiết và có thể thực hiện được khi ta biết cầu xin Chúa giúp. Quả thực, sự xúc phạm của người khác chẳng đáng là bao so với tội lỗi ta đã xúc phạm đến Thiên Chúa và đến anh em. Xin cho mọi người chúng ta biết ý thức lời dạy của Chúa, rằng “oán hờn và giận dữ cả hai đều là ghê tởm, điều quan trọng nhất, đặc biệt, hãy chấm dứt hận thù, và hãy nhớ đến giao ước của Đấng Tối Cao, và hãy bỏ qua lầm lỗi của kẻ khác” (Hc 28, 9).

Linh mục Antôn Phạm Trọng Quang, SVD

24.8.20

Nên Hay Không Nên Cho Bệnh Nhân Ung Thư Biết Bệnh Tình Của Họ?

 Nên Hay Không Nên Cho Bệnh Nhân Ung Thư Biết Bệnh Tình Của Họ?



(Ảnh sưu tầm)
 

Một câu hỏi thường được đặt ra cho chúng ta đó là nên hay không nên cho bệnh nhân, nhất là bệnh nhân ung thư giai đoạn cuối biết bệnh tình của họ? Có nhiều ý kiến trái chiều liên quan đến câu hỏi này, có người cho rằng không nên cho họ biết, có người thì nhất quyết phải cho họ biết, và cũng có người cho rằng tùy thuộc vào tình huống và khả năng đón nhận của bệnh nhân.

1.     Nên hay không nên?

Truyền thống người Châu Á nói chung và người Việt Nam nói riêng, thường cho rằng người nhà nên dấu và không cho bệnh nhân biết về tình trạng bệnh tật, nhất là trong trường hợp khi bác sĩ phát hiện bệnh ung thư của bệnh nhân đã vào giai đoạn cuối. Tuy nhiên theo nguyên tắc chung của ngành y hiện nay, “bệnh nhân phải được thông báo về bệnh tình của họ (Okamura et al, 1988, tr. 1). Bác sĩ là người có trách nhiệm thông báo cho bệnh nhân, giúp họ vượt qua cú sốc tinh thần, đồng thời trong quá trình chữa trị phải bàn hỏi với bệnh nhân để đưa ra cách thức chữa trị tốt nhất, hoặc chuẩn bị những gì cần thiết cho các giai đoạn khó khăn tiếp theo... Dĩ nhiên, “không phải ngay từ đầu bác sĩ có thể nói hết mọi tình tiết cho bệnh nhân, mà các chuyên gia khuyên rằng, mỗi ngày cho biết một ít thông tin, đồng thời giải thích những gì liên quan, nhằm giúp bệnh nhân có khả năng đón nhận tin dữ đang xảy ra cho mình một cách dễ dàng hơn” (Okamura et al, 1988, tr. 2).

Để nói thêm lý do tại sao bác sĩ lại lựa chọn dấu không cho bệnh nhân biết về thực trạng sức khỏe của họ, thông thường bác sĩ cho rằng nếu cho bệnh nhân biết hết bệnh tình, họ sẽ suy sụp tinh thần, thậm chí bệnh nhân có thể nghĩ đến việc tự tử, nên chọn cách báo cho gia đình bệnh nhân là hợp lý nhất. Tuy nhiên, cũng theo nguyên tắc, “gia đình không phải là thành phần duy nhất được biết thông tin và thực trạng của bệnh nhân mà chính bệnh nhân là người phải nắm rõ về tình hình sức khỏe của họ” (Hitoshi, 1988, tr. 2).

Dĩ nhiên, gia đình có vai trò rất quan trọng trong quá trình điều trị cho người bệnh. Vì thế, nhiều chuyên gia khuyên rằng, thông tin về bệnh tình của bệnh nhân nên được nói trước mặt người nhà và bệnh nhân. Nhiều lúc chúng ta lo sợ khi nói sự thật với bệnh nhân họ sẽ sụp đổ tinh thần, tuy nhiên, trên thực tế, nhiều khi “người nhà còn tỏ ra yếu đuối hơn bệnh nhân, cho nên khi nghe tin dữ, người nhà còn dễ sụp đổ hơn” (Goldie, 1982, tr. 128). Vì chỉ có người bệnh mới cảm được sự đau đớn và những gì đang xảy ra trên cơ thể họ, nên khi bác sĩ nói sự thật họ bớt ngỡ ngàng hơn.

2.     KHÔNG nên cho bệnh nhân biết sự thật.

Theo nghiên cứu của giáo sư Gan Yiqun và các nhà khoa học cùng ngành, được biết người Châu Á nói chung và người Việt Nam nói riêng, có đến trên 95%  người được phỏng vấn cho rằng “không nên cho người thân của mình biết về bệnh tình của họ” (Gan et al., 2017, tr. 1460), vì những lý do căn bản sau đây:

1)     Khi biết bệnh nhân của mình mắc bệnh hiểm nghèo, nhất là ung thư giai đoạn cuối, các bác sĩ sẽ chọn cách an toàn nhất, đó là báo cho gia đình bệnh nhân biết. Cách này sẽ tránh được phiền phức cho chính bác sĩ. Nhưng ý kiến này cũng bị phê bình, rằng bác sĩ chỉ nghĩ đến lợi ích của bản thân, nhưng không nghĩ đến quyền lợi của bệnh nhân. Đáng ra bệnh nhân phải được thông báo để họ chọn cách đối phó với thách đố trong quá trình điều trị, thậm chí nếu không chữa trị được thì họ cũng cần biết sự thật để chuẩn bị tinh thần. Nhất là những ai có đức tin, “họ cần được biết để chuẩn bị một cái chết nhẹ nhàng hơn” (Hội Đồng Giám Mục Hoa Kỳ, 2018, số#55).

2)     Tuy nhiên, đối với văn hóa Đông Phương, chết là một điều hủy hoại tất cả, chết là điều cấm kỵ, cho nên tốt nhất chúng ta không nên đề cập điều này trước mặt người bệnh.

3)     Ở Việt Nam mọi chi phí chữa trị đa số đều do người nhà tự lo, hơn nữa vấn đề nên hay không nên tiếp tục chữa trị cho người bệnh đều do người nhà quyết định, vì thế bệnh viện thường chọn cách bàn thảo với người nhà. Hơn nữa bác sĩ “chỉ chú tâm đến việc chữa trị sức khỏe thể lý cho bệnh nhân mà quên đi tầm quan trọng của việc quan tâm đến nhu cầu tâm lý và đức tin cho bệnh nhân” (Gan et al, 2017, tr. 1460).

3.     NÊN nói sự thật cho bệnh nhân

Như chúng ta đã đề cập ở trên, trước đây bác sĩ và người nhà thường dấu bệnh tình của bệnh nhân, nhưng ngày nay, các chuyên gia về y đức cho rằng “chúng ta phải tìm cách để nói sự thật với họ và cho họ” (Goldie, 1996, tr. 75), vì những lý do chính yếu sau đây:

1)     Biết sự thật về bệnh tình của mình là “quyền của bệnh nhân” (Gan et al, 2017, tr. 1461), là quyền lợi căn bản của mỗi cá nhân. Đã là quyền lợi thì nó phải được tôn trọng, không ai được xâm phạm. Ví dụ khi một người biết mình bị ung thư giai đoạn cuối, thì họ có quyền quyết định nên hay không nên tiếp tục điều trị. Nếu tiếp tục điều trị họ cũng có quyền lựa chọn cách chữa trị cho phù hợp. Có nhiều trường hợp người nhà cứ cho rằng còn nước còn tát, nên cứ phải cố gắng bỏ ra biết bao kinh phí nhưng bệnh tình người nhà chẳng có gì giảm bớt, thậm chí vì tiêm quá nhiều thuốc giảm đau, khiến người bệnh trở nên mệt mỏi hay lúc tỉnh lúc mê. Như vậy vừa tốn kém lại vừa kéo dài sự đau đớn của người bệnh.

2)     Khi bác sĩ và người nhà dấu bệnh tình của bệnh nhân, nếu “không may” một ngày nào đó bệnh nhân bất ngờ biết về sự thật bệnh tình của mình, thì họ sẽ bị “shock” nặng hơn, họ cho rằng mọi người dấu diếm và lừa dối họ, họ sẽ không thể tin tưởng vào ai và trở nên giận dữ vì ngay đến người nhà cũng không thật lòng và tôn trọng họ.

3)     Bệnh nhân có nhu cầu được tôn trọng, cảm thông và nắm bắt về bệnh tình của họ. Họ muốn biết thuốc gì đang dùng để điều trị và những tác dụng phụ nào khiến họ phải chịu đựng. Vì ngoài việc phối hợp dùng thuốc, thì họ phải tập cho mình tinh thần lạc quan, nhất là trong trường hợp không thể chữa trị, họ phải sống dựa vào tinh thần và sức mạnh của đức tin. Như trường hợp của Đức Hồng Y Paul Shan ở Đài Loan, khi phát hiện ngài bị ung thư phổi giai đoạn cuối, bác sĩ nói ngài chỉ sống được 4-6 tháng. Sau khi nghe bệnh tình của mình nguy kịch như vậy, ngài quyết định đi một vòng quanh các giáo phận Đài Loan để thuyết trình, gỡ và tạm biệt mọi người. Có lần nghe ngài giảng, tôi đặc biệt cảm động với câu nói: “tôi phó thác bệnh tật cho y bác sĩ, tôi cống hiến thời gian ngắn ngủi còn lại cho anh chị em, còn sự sống của tôi, tôi phó thác cho Thiên Chúa”.  Thật lạ lùng, sau đó ngài sống thêm được hơn 6 năm, thực hiện hàng trăm buổi thuyết trình, và làm rung động hàng triệu con tim.

4)     Như vậy, chấp nhận thực tế và chuẩn bị tâm hồn là bước ngoặt rất khó khăn nhưng rất quan trọng đối với bệnh nhân. Nhất là đối với những ai có đức tin, họ cần nhiều thời gian dành cho Chúa, tĩnh dưỡng tâm hồn và lãnh nhận các bí tích, thậm chí họ cần nhiều thời giờ để cầu nguyện, gặp các linh mục và giáo dân để chuẩn bị đón nhận cái chết, để trở về với Chúa với tin thần tự tin và thanh thản hơn.

4.     Kết luận

Nên hay không nên nói sự thật về bệnh trạng của bệnh nhân, đặc biệt những người được kết luận ung thư giai đoạn cuối là một câu hỏi rất căn bản. Có nhiều ý tưởng khác nhau bàn luận xung quanh vấn đề này, nên quyết định chọn cách nào cũng cần nhiều khôn ngoan và sự can đảm. Thời nay, chúng ta thấy bệnh ung thư ngày càng phổ biến, xung quanh chúng ta, có thể là người quen, bạn bè, hay chính người thân, có nhiều người đang phải vật vã với căn bệnh ung thư hay các bệnh hiểm nghèo khác, chúng ta cũng nên thận trọng suy nghĩ về vấn đề nên hay không nên.

Truyền thống người Việt chúng ta có khuynh hướng không nói sự thật cho người thân biết về tình trạng nguy kịch, nhưng ngày nay các nhà đạo đức y học khuyên chúng ta nên nói sự thật cho họ, vì đó là quyền lợi, vì có là cơ hội để họ đưa ra những lựa chọn và phương cách chữa trị tốt nhất và hợp lý nhất, hoặc để họ chuẩn bị tâm hồn nếu khi quá trình điều trị đã không có hiệu quả. Dĩ nhiên, làm sao để nói sự thật cho người bệnh, ai sẽ nói, nói lúc nào..., là những điều cần được bàn bạc thêm. Người viết hy vọng sẽ được “hầu chuyện” cùng quý vị trong những bài viết sắp tới.

Washington DC, ngày 24/8/2020

Lm. Antôn Phạm Trọng Quang, SVD

----------------------

Tài liệu tham khảo

1.     United States Conference Of Catholic Bishops, Ethical and Religious Directives for Catholic Health Care Services,  Sixth Edition, 2018.

2.     Meilaender, Gilbert. Bioethics: a Primer for Christians. 2nd ed. Grand Rapids, Michigan: W.B. Eerdmans Pub. Co., 2005.

3.     Okamura, H., et al. “Guidelines for Telling the Truth to Cancer Patients. Japanese National Cancer Center.” Japanese Journal of Clinical Oncology, vol. 28, no. 1, Jan. 1998, p. 1–4.

4.     Goldie, Lawrence. “The Ethics of Telling the Patient.” Journal of Medical Ethics, vol. 8, no. 3, Society for the Study of Medical Ethics, Sept. 1982, pp. 128–33.

5.     Gan, Yiqun, et al. “Why Do Oncologists Hide the Truth? Disclosure of Cancer Diagnoses to Patients in China: A Multisource Assessment Using Mixed Methods.” Psycho-Oncology (Chichester, England), vol. 27, no. 5, Wiley, 2018, pp. 1457–63.


Bài đăng trên Vietcatholic

http://www.vietcatholic.net/News/Html/258089.htm


9.8.20

BỎ LẠI SAU LƯNG KHÔNG GIAN HOÀNH TRÁNG

 BỎ LẠI SAU LƯNG KHÔNG GIAN HOÀNH TRÁNG

Mt. 14, 22-33
Linh mục Antôn Phạm Trọng Quang, SVD

D

Theo lời tường thuật của Thánh Matthêu, sau khi thực hiện phép lạ hóa bánh cho năm ngàn người đàn ông chưa kể phụ nữ và trẻ em ăn no nê, thì Chúa Giêsu bắt các môn đệ lên thuyền mà sang bờ bên kia. Một tình huống thật bất ngờ khi các ông đang vui sướng tận hưởng những giây phút thật hoành tráng và đầy danh dự, thì họ buộc phải chấm dứt cuộc vui và rời nơi đó ngay trong đêm tối. Tình huống càng căng thẳng, theo thánh Matthêu, khi chỉ có các ông lên thuyền mà không có sự hiện diện của Chúa Giêsu, vì Ngài đang cầu nguyện một mình trên núi. Trong đêm khuya thanh vắng, thuyền của họ lênh đênh trên mặt biển, hơn nữa thuyền lại gặp gió lớn nên họ bắt đầu bất an và sợ hãi.
Cuộc đời chúng ta nhiều lúc cũng thường chứng kiến những thay đổi bất ngờ như vậy mặc dầu chúng ta không muốn chút nào. Dĩ nhiên, chúng ta ai cũng muốn kéo dài cuộc vui nhưng nhiều lúc chúng ta vẫn thường phải yêu cầu “xuống thuyền ngay và sang bờ bên kia” như các môn đệ của Chúa Giêsu. Câu hỏi đặt ra ở đây là tại sao Chúa lại ra lệnh cho các ông đi ngay như vậy? Theo các nhà lý giải Kinh Thánh, đó là vì Chúa không muốn để các ông sống trong một cảm giác hoang tưởng về một hình ảnh vinh hoa theo cái nhìn của trần thế. Chúa muốn cho các ông lánh xa sự hoành tráng, và ý thức được rằng theo Chúa là phải vác thập giá mỗi ngày mà theo. Bước theo chân Đức Kitô, trở thành tông đồ của Ngài là để phục vụ chứ không phải để được người ta ca tụng.
Tôi nhớ lại, ngày tôi chịu chức, thánh lễ hôm đó có sự hiện diện của hàng trăm linh mục và hàng ngàn giáo giáo dân. Theo thói quen của giáo hội Đài Loan, sau thánh lễ mọi người được mời vào dự tiệc còn tân linh mục thì đứng trong nhà thờ đặt tay cho dòng người xếp hàng để nhận phúc lành của Chúa từ tay tân linh mục. Cảm giác hôm đó thật hạnh phúc, vì tôi là nhân vật chính trong ngày lễ truyền chức, vì tôi nhận được nhiều lời chúc mừng, cũng như nhiều món quà từ người thân và bạn bè. Nhưng chỉ sau vài giờ, mọi người ai nấy về nhà mình. Rồi tôi cũng trở về nhà dòng với một cơ thể mệt lả, nhất là cảm thấy một nỗi cô đơn và trống vắng rất lạ lùng. Cuộc vui sao chấm dứt sớm thế?
MA KÌA
Thánh Matthêu cho chúng ta thấy rằng, khi con thuyền của các môn đệ bị sóng gió trồng trềnh, họ kêu thét lên. Thậm chí khi Chúa Giêsu, người thầy của họ tiến lại gần, mà họ còn la lên “ma kìa” (Mt. 14, 26). Tôi cảm thấy đời sống linh mục của mình thường gặp nhiều tình huống bấp bênh như vậy. Những khát vọng thực hiện các chương trình truyền giáo, những ước mong truyền đạt những kiến thức Kinh Thánh và giáo lý cho người khác nhiều lúc đã trở nên thật hão huyền, thậm chí nó trở nên một thứ “mùi” đắc thắng, trái ngược với lý tưởng của Đức Giêsu. Thực ra khi tôi cố gắng làm việc bằng chính khả năng và sức lực của tôi, điều đó chẳng có gì sai. Nhưng khi tôi dành quá nhiều thời gian cho công việc, ắt hẳn tôi không chú trọng đến thời gian cầu nguyện và nghỉ ngơi. Và khi đời sống truyền giáo của tôi thiếu vắng Thiên Chúa thì đời sống ấy đã gặp biết bao nhiêu gian nan và thử thách. Bởi thế bao toan tính, bao tham vọng này của tôi có lúc đã đi ngược với bản chất và sứ mạng đích thật của Hội Thánh.
ĐỪNG SỢ
Thánh Matthêu kể tiếp, khi thấy các môn đệ lo lắng và sợ hãi như vậy, thì Chúa mới bảo họ rằng, “Cứ yên tâm, chính Thầy đây, Đừng sợ” (Mt. 14, 27). Thật là hạnh phúc cho các tông đồ, trong cơn hốt hoảng thì họ được nghe thấy tiếng trấn an của thầy mình. Chính vì thế mà họ đã lấy lại bình tĩnh, và nỗi sợ đã tan biến khỏi họ. Cuộc sống của chúng ta cũng thật kỳ diệu, không chỉ có những ai sống đời sống thánh hiến, mà cả những ai sống trong đời sống hôn nhân hay độc thân, nhiều lúc chúng ta gặp rất nhiều khó khăn và thử thách, tưởng chừng như chúng ta không thể vượt qua nổi, thậm chí phải bỏ cuộc. Nhưng Thiên Chúa luôn hiện diện bên chúng ta: Ngài dùng người này người nọ để đồng hành, động viên và hướng dẫn chúng ta vượt qua những khó khăn đó. Để rồi những khó khăn và thách đố đó không làm cho chúng ta gục ngã, nhưng lại giúp chúng ta trưởng thành hơn, nhất là càng khiến chúng ta tin tưởng vào Chúa nhiều hơn.
XIN CỨU CON
Một chi tiết nữa rất đáng chú ý trong đoạn tường thuật của thánh Matthêu, đó là khi thánh Phêrô xin Chúa cho ông được đi trên biển mà đến với Ngài, thì Chúa cho ông được như điều ông mong ước. Nhưng vì một chút nghi ngờ, vì một giây phút thiếu đức tin mà ông đã chìm xuống khiến ông phải kêu lên: “Lạy Ngài, xin cứu tôi” (Mt. 14, 30). Lời kêu cứu của Phêrô thật khẩn thiết, là lời cầu nguyện nói lên cậy trông vào Chúa của Chúa Giêsu của ông, mặc dầu ông đã lỡ nghi ngờ. Bởi thế Chúa chỉ nhẹ nhàng quở trách ông là người kém lòng tên, đưa tay kéo ông lên rồi lên thuyền cùng các ông. Thật lạ lùng, sau khi Ngài lên thuyền thì gió yên biển lặng.
Thật vậy, những lời tường thuật của thánh Matthêu trong đoạn Tin Mừng hôm nay mang lại cho ta thật nhiều cảm Xúc thăng trầm. Qua lời tường thuật này, cho chúng ta thấy những thay đổi về cảm xúc và lòng tin của các tông đồ, từ cảm giác sung sướng như trong mơ rồi bị kéo xuống vực sâu. Điều đáng học hỏi ở đây, đó là trong gian nguy thử thách, các ngài đã nhận ra sự yếu đuối của mình và họ đã được Chúa phục hồi niềm tin và tìm được sự bình an.
Điều đã xảy đến cho các tông đồ, cũng mãi là kiểu mẫu và gương soi cho mọi chúng ta. Vì cuộc đời chúng ta không phải lúc nào cũng “hoành tráng”, nhưng thường có những chuỗi ngày thử thách gian truân. May mắn thay chúng ta có niềm tin tôn giáo, chúng ta có Chúa, nên khi gặp phong ba bão táp, chúng ta biết cậy dựa vào Chúa để vượt thắng những thử thách nguy biến đó. Thật thế, chúng ta sẽ chẳng bao giờ đắm chìm, mất hút trong giòng lịch sử, với điều kiện phải cương quyết giữ vững đức tin. Vì, “nếu không gắn bó với Ta, các ngươi sẽ chẳng đứng vững được” (Is 7, 9).
Xin cho mọi người chúng ta luôn biết gắn bó với Chúa. Trong lúc gặp khó khăn hãy học nơi thánh Phêrô mà thưa với Chúa rằng, “Lạy Chúa xin cứu con,” chắc chắn Chúa sẽ trả lời chúng ta: “Hãy yên tâm, Thầy đây, đừng sợ!” Hãy luôn biết cầu xin Chúa “lên thuyền” với chúng ta, ở lại với chúng ta, để đời sống chúng ta tránh được phong ba bão táp và tìm được bình yên. Như thế, thử thách, khổ đau, thất bại không vùi dập hay nhấn chìm chúng ta, mà chỉ là những lời cảnh tỉnh và thanh luyện niềm tin cho chúng ta.

15.7.20

Hành Trang Người Gieo Giống


Hành Trang Người Gieo Giống

Mùa hè là mùa của lễ khấn và lễ truyền chức trong giáo hội. Riêng trong gia tộc của tôi mùa hè năm nay rất vinh dự có bốn sơ, hai thầy khấn lần đầu, một sơ và hai thầy khấn trọn đời trong các dòng Đa Minh, dòng Nữ Tỳ Chúa Thánh Linh, dòng Đồng Công, dòng Xitô, dòng MTG và dòng Don Bosco. Niềm vui và hạnh phúc sẽ tràn ngập trên khuôn mặt các tu sĩ, vì sau nhiều năm đào tạo, họ được trở nên những người gieo giống trong cánh đồng truyền giáo của giáo hội. Đặc biệt sau ngày lễ khấn dòng hay sau thánh lễ truyền chức các tu sĩ sẽ được gửi đến nhiều lãnh vực khác nhau để bắt đầu sứ truyền giáo của họ.

Vâng, niềm vui và hạnh của của người tu sĩ là được sai đi, đi gieo hạt giống. Họ gieo hạt giống lời Chúa khắp mọi nơi. Nhưng thành quả trong công việc gieo giống của họ rồi sẽ không giống nhau. Điều này được Chúa Giêsu lý giải bằng dụ ngôn được ghi chép lại trong Tin Mừng của thánh Mathêu. Chúa nói “Có người ra đi gieo giống, trong khi gieo, có hạt rơi xuống vệ đường, chim trời bay đến ăn mất. Có hạt rơi xuống trên đá sỏi, chỗ có ít đất, nó liền mọc lên, vì không có nhiều đất. Khi mặt trời mọc lên, bị nắng gắt, và vì không đâm rễ sâu, nên liền khô héo. Có hạt rơi vào bụi gai, gai mọc um tùm, nên nó chết nghẹt. Có hạt rơi xuống đất tốt và sinh hoa kết quả, có hạt được một trăm, có hạt sáu mươi, có hạt ba mươi.” (Mt 13, 3-8)

Theo lý giải của Chúa Giêsu, khi lời Chúa được gieo xuống vệ đường, tức là những ai nghe lời Chúa mà không hiểu thì sẽ bị quỷ dữ cướp lấy đi. Trường hợp thứ hai, khi Lời Chúa được gieo trên đá sỏi, đó là người nghe lời giảng, thì tức khắc vui lòng chấp nhận, nhưng không đâm rễ sâu trong lòng, mà vì họ nông nổi nhất thời, nên không khi gặp khó khăn gian truân thì họ lập tức vấp ngã mà quên mất Lời Chúa. Tiếp đến, hạt rơi vào bụi gai, là kẻ nghe lời giảng, nhưng vì lòng họ lo lắng việc đời, ham mê của cải, khiến lời giảng này bị chết nghẹt mà không sinh hoa kết quả được. Cuối cùng, hạt gieo trên đất tốt, là ai nghe lời Chúa mà hiểu được, nên sinh hoa kết trái, thậm chí còn có kết quả dồi dào. (xem Mt 13, 18-23)

Thật vậy, các linh mục và tu sĩ khi được sai đi loan báo Lời Chúa thì ai nấy đều hồ hởi và quyết tâm, nhưng trong thực tế nhiều lúc việc rao giảng của họ không phải bao giờ cũng được như ý muốn. Thậm chí có nhiều lúc họ thất bại nặng nề, vì thế chúng ta hy vọng trong quá trình gieo hạt giống Lời Chúa, người tu sĩ nên chuẩn bị những tinh thần cần thiết sau:

1.        Tinh thần hăng say

Đã là người gieo giống thì các tu sĩ cần phải đi gieo một cách quảng đại và đầy hào phóng, đã là gieo giống thì chỗ nào cũng có thể gieo, tích cực gieo mà không hối tiếc. Giống như ánh sáng mặt trời luôn chiếu sáng cho người công chính cũng như người bất lương. Như mưa đổ xuống trên ruộng người lành cũng như người dữ. Đã đi gieo giống thì thì không chỉ có gieo trên thuở tốt mà thôi, nhưng cứ gieo cả nơi sỏi đá, bên vệ đường và cả bụi gai. Quả thật, điều này không phải vì người tu sĩ thiếu sự hiểu biết hay không tôn trọng hạt giống Lời Chúa, nhưng nói lên tinh thần hăng say, cần mẫn và không tính toán thiệt hơn của họ. Khi đã khấn hứa và quyết tâm dâng hiến đời mình cho Chúa rồi, thì người tu sĩ quyết dành hết thời gian, kiến thức và sức khỏe để đi khắp mọi nơi reo giảng lời Chúa mà không mỏi mệt.

2.        Thái độ khiêm nhường.

Ngoài tinh thần hăng say trong công việc gieo hạt giống Lời Chúa, thì người rao gieo hạt giống Lời Chúa cần học được tinh thần khiêm nhường. Vì khi chúng ta mới bắt đầu công việc rao giảng, nhất là khi chúng ta mới được thọ giáo nhiều kiến thức về tu đức và thần học từ các nhà dòng hay chủng viện, thì ta luôn rao giảng một cách hùng hồn; hơn nữa khi có người sẵn sàng lắng nghe chúng ta, thì ta tưởng rằng mình đã thành công. Tuy nhiên, vì tuổi đời của chúng ta còn non trẻ, chưa có nhiều kinh nghiệm sống để thuyết phục lòng người thì lời giảng của chúng ta có lúc trở nên trống rỗng. Như thế niềm tin của giáo dân vào lời giảng của ta ắt hẳn sẽ suy giảm dần đi, chẳng khác nào hạt giống rơi vào vệ đường hoặc rơi trên sỏi đá, cây mọc lên nhưng vì thiếu nước nên cây dần chết đi. Vì thế, trong bất kỳ hoàn cảnh nào người tu sĩ luôn biết khiêm tốn trong lời mình rao giảng.

3.     Và lòng trung thành.

Khi người tu sĩ gặp phải sự khó khăn và thử thách thì chắc chắn dễ nản lòng, thậm chí tìm cách bỏ cuộc, vì thế họ luôn phải nhắc nhớ chính mình rằng, cần phải kiên tâm trong sứ vụ rao giảng của mình. Người tu sĩ đừng để mình thất vọng về những thất bại lúc hiện tại nhưng biết kiên tâm trông chờ và hy vọng vào một tương lai tươi sáng. Vì không ai hoàn toàn là kẻ “bên lề đường”, “sỏi đá”, hay “bụi gai”, nhưng có lúc  sẽ họ trở nên “mảnh đất tốt” nếu người gieo giống biết chăm chút, để nơi mảnh đất ấy, hạt giống Lời Chúa sẽ được mọc lên, sinh hoa kết trái. Nói cách khác, không ai luôn tìm cách từ chối lời rao giảng của các tu sĩ, nhưng khi người tu sĩ biết kiên trì trong sứ vụ rao giảng của mình thì dần dần người nghe sẽ bị thuyết phục, họ sẽ sẵn sàng lắng nghe và tiếp nhận Lời Chúa.

Xin cho các tu sĩ trong Giáo Hội luôn biết nhiệt thành và hăng say trong việc rao giảng của mình. Đặc biệt, xin cho họ luôn trung thành với sứ vụ rao giảng mà Chúa đã trao phó, để họ vượt qua mọi nghịch cảnh, họ và để công việc rao giảng của họ trở nên hữu ích cho nhiều người.

Mùa hè 2020
Lm. Antôn Phạm Trọng Quang, SVD

Sứ Vụ Truyền Giáo: Lời Cam Kết Của Thành Viên Phong Trào Cursillo

  Sứ Vụ Truyền Giáo: Lời Cam Kết Của Thành Viên Phong Trào Cu rsillo   1.       Dẫn nhập Buổi chiều ngày cuối cùng khóa “khóa ba ngà...