3.4.21

TRÁI TIM NGƯỜI ĐÀN BÀ ĐỨNG BÊN THẬP GIÁ

 


(Ga 19: 17-37).

 

Bên thập giá Mẹ lặng thầm đứng đó,
Tim nát tan bởi gươm nhọn đâm thâu.
Nhưng tâm hồn dạt dào Ơn Thiên Phước
Lòng tỏ tường kế hoạch Chúa đang đi
Mẹ tri ân được Chúa chọn tham dự
Ave Maria, Mẹ là Mẹ chúng con.

 

Giờ mà Đức Giêsu được treo lên, giờ mà thân xác tàn dại của một vị vua được treo lên là lúc chứng kiến bao hậu quả tốt xấu, sự thật và ý nghĩa của biến cố Đức Giêsu bị treo lên bắt đầu được biểu lộ. Ai sẽ hiểu được điều gì sắp xảy ra, ai thấu hiểu được kế hoạch mà Thiên Chúa đang thực hiện?

Dưới chân thập giá có nhiều
người đang than khóc, có những người đang chiêm ngắm thân tàn của một vị Đức Chúa. Hai bên Đức Giêsu cùng bị đóng đinh có mặt hai tên trộm. Quân lính sau hơn một ngày sống trong cuồng dại cũng chuẩn bị thu xếp vũ khí để rút lui. Dân chúng hãy còn ít người cũng ở lại để chứng kiến một sự kiện chấn động cả trần gian. Tất cả những điều xảy ra lúc này đều được một người đàn bà “chứng kiến và ghi nhớ trong lòng để suy đi nghĩ lại” (Lc 2, 19).

 

Vâng, đứng dưới thập giá lúc này là Mẹ Maria, thánh Gioan và một số người phụ nữ khác. Trước thực trạng con mình bị đóng đinh trần truồng trên thập giá, hơi thở cuối cùng sắp đến, lúc này đã có người không ngừng nói lời nhục mạ cái tên Giêsu, đứa con thân yêu của Mẹ. Họ đay nghiến với Chúa Giêsu với những lời đầy thách thức: “Nếu ông đã cứu được người khác thì hãy cứu lấy mình đi”, hay “Nếu ông là vua dân Do thái, là con Thiên Chúa thì hãy xuống khỏi thập giá đi để chúng tôi tin” (Mt 27, 40). Than ôi ! Mẹ đã chứng kiến trận đòn ác liệt của con, tâm thần đau xót, và trước mặt mình là tấm thân tàn ma dại của người con. Như thế là đã đủ khổ nhục rồi, bây giờ lại còn phải nghe những lời thách thức, cố ý hạ nhục một đứa con thân yêu của mình. Mẹ đau khổ biết chừng nào! Quả thực, lời của ông già Simêon đã được ứng nghiệm, “một lưỡi gươm sẽ đâm thâu trái tim Mẹ” (Lc 2, 35).

 

Nhưng sự kiện Đức Kitô trên thập giá mang đến nhiều thái độ khác nhau. Ít nhất lời của cụ già Simeon ngày xưa nay cũng đã ứng nghiệm “Đứa trẻ này sẽ khiến nhiều người an ủi nhưng cũng là cớ cho nhiều người cấp ngã” (Lc 2, 34). Thật thế, tên trộm bị đóng đinh cùng Đức Giêsu đã nói lên điều này. Kẻ bên tả đã nhục mạ Đức Giêsu rằng: “Nếu ông là Đấng Mêsia thì tự cứu mình đi, và cứu cả chúng tôi nữa” (Mt 27, 40). Những lời thách thức này Đức Mẹ đều nghe hết, nhưng Mẹ vẫn âm thầm không một lời phản bác, sự âm thầm không tiếng than van của Mẹ kéo dài suốt chặng đường khổ giá của con.

 

Trong giây phút âm thầm bên thánh giá, Mẹ cũng chứng kiến những lời tuyên xưng đức tin và thái độ khiêm tốn của người trậm lành khi anh đáp lại lời khiển trách của tên trộm dữ: “Chúng ta chịu thế này thì đích đáng, còn ông này có tội gì đâu” (Lc 23, 41). Hạnh phúc thay kẻ được hồng ân trở lại như người trộm lành này. Phúc thay ai có lòng ăn năn thành thật. Vâng, chính nhờ thế mà ông đã được “Thánh Thần thúc đẩy” mà mở lòng xin cùng Chúa Giêsu: “Ông Giêsu ơi, khi nào ông đến lần thứ hai, xin đừng quên tôi, nhớ đến tôi với” (Lc 23, 42).

 

Thiên Chúa yêu thương kẻ lòng thành, Thiên Chúa ban cho kẻ thật lòng ăn năn và cậy trông vào Ngài nhiều gấp bội, ơn của Ngài ban dồi dào hơn so với mức ta xin: “Hôm nay ngươi đã được ở trên thiên đàng với Ta” (23, 43).


Đức Maria mặc dầu trái tim bị đâm thâu nhưng tâm hồn Mẹ lại được tràn đầy ơn Thiên Chúa, Đức Mẹ bình tĩnh đón nhận tất cả, và từng bước từng bước khám phá những mầu nhiệm mà Thiên Chúa đang thực hiện, quan trọng nhất là Mẹ đã được Thiên Chúa mời cộng tác với chương trình
cứu độ của Ngài. Đức Giêsu cũng không thể quên ơn của Mẹ mình, không thể không đề cao vai trò của Mẹ mình trong việc dẫn dắt “những người tin” nên trong lúc hấp hối Ngài đã nói với Mẹ rằng: “Này Mẹ, đây là con Mẹ”, và nói với môn đệ Ngài thương mến “Này là Mẹ con” (Ga 19, 17).


Đây là một diễm phúc cho những kẻ tin vào Đức Giêsu vừa bị đóng đinh, chịu chết và rời bỏ mẹ mình và học trò của mình, Ngài mong cho mẹ mình được nơi chăm sóc cẩn trọng, mong cho mẹ mình được sống bằng yên. Nhưng về phía phần người làm con, được hưởng một đặc ân là có một người lãnh đạo tinh thần vững chắc. Món quà mà Đức Giêsu trối lại cho con mình (loài người) thật là quí giá. Chẳng phải là sau khi Đức Giêsu bị đóng đinh, chôn cất trong mồ thì các tong đồ và những kẻ tin Ngài đã tản mác khắp nơi, đây là lúc niềm tin của họ bị lung lay, đây là lúc họ sợ hãi, sợ bị liên quan với Đức Giêsu. Bởi thế, Mẹ là niềm cậy tin tốt nhất của họ. Chỉ có Mẹ mới hiểu được ngọn nguồn của biến cố này. Mẹ là trung tâm, là nơi để các con chiên lạc bị tản mác dần dần tìm về.


Trong vòng 40 ngày từ ngày Chúa Giêsu sống lại, Thánh Kinh không tường thuật Đức Kitô có hiện ra cho Đức Mẹ hay không, nhưng sự thật Đức Mẹ là nơi để các môn đệ tin cậy, nơi các Ngài củng cố niềm tin và niềm hy vọng vào Đức Kitô. Công vụ tông đồ ghi lại, trước khi đợi chờ Thánh Thần hiện xuống, các ông đã tụ tập ở Giêrusalem cùng với Đức Mẹ (Cv1:12-14). Khi Giáo Hội chưa thành hình hay sau khi Giáo Hội đã thành lập, Mẹ luôn là Mẹ của Giáo Hội, luôn đồng hành với Giáo Hội để bảo vệ cho được bình an, để đỡ nâng và để củng cố tinh thần. Được hoà nhập trong Giáo hội, mỗi người chúng ta được diễm phúc làm con của Mẹ, nhờ lời trăn trối của Đức Giêsu rằng: “Đây là Mẹ của con”. Phận làm con chúng ta cũng cần yêu mến và vâng lời Mẹ của mình, chạy đến Mẹ hằng ngày.

 

Linh mục Antôn Phạm Trọng Quang, SVD

1.4.21

BỮA TIỆC CỦA NHỮNG CHIA LY

 


BỮA TIỆC CỦA NHỮNG CHIA LY

 

The Last Supper, tiếng Việt dịch làBữa tiệc ly, hay tiếng Hoa được dịch sát nghĩa, với nội dung rất gần gũi, đó“Bữa ăn tối cuối cùng”. Vâng, tiệc ly hay bữa tối cuối cùng khi đây đều muốn diễn tả sau bữa cơm sẽ có một cuộc chia ly. Bữa tiệc này được diễn ra trong bối cảnh người Do Thái tổ chức lễ vượt qua, nhớ lại sự kiện dân Israel ngày xưa được Thiên Chúa giải thoát khỏi ách thống trị của Ai cập.

Kinh Thánh kể rằng đêm trước khi Thiên Chúa dẫn đưa dân Do Thái rời khỏi Ai Cập, Ngài đã sai thiên thần đến từng gia đình Israel bảo họ làm thịt một con chiên, thịt thì chia nhau để ăn và lấy máu bôi trên cửa nhà, để khi thiên thần đi qua, nếu có nhà nào có vệt máu, thiên thần sẽ bỏ qua, còn nếu không thấy vệt máu sẽ đi vào và giết chết con trai đầu lòng trong nhà đó. Chính nhờ như thế con cái của Israel không ai phải chết, nhưng những người bị giết chỉ là con cái người nhà Ai cập.

Buổi tiệc ly hôm nay Đức Giêsu dùng bữa với các môn đệ còn mang một ý nghĩa hết sức cao quý, là một bữa tiệc báo hiệu một cuộc chia ly giữa Đức Kitô và các môn đệ, một cuộc chia ly để Đức Giêsu đi vào cuộc khổ nạn đau thương, hy sinh trên thánh giá, chịu mai táng trong mồ và sau đó được phục sinh. Chiên hiến tế của lễ vượt qua hôm nay không còn là những con chiên thông thường nữa nhưng chính là Đức Kitô, Ngài sẽ là con chiên được sát tế, để khi ai ăn thịt và uống máu Ngài thì sẽ không bao giờ chết.

Chúa Giêsu biết ngày giờ của Ngài đã đến, ngày giờ mà sự căng thẳng giữa người giao truyền “chân lý và những kẻ chối từ chân lý lên đến tột đỉnh. Đức Kitô biết ngày giờ mà Ngài phải được treo lên đang đến rất gần, để minh chứng cho tình yêu Thiên Chúa đã hứa với loài người, để những ai nhìn lên Con Chiên, tin tưởng vào Người thì sẽ được sự sống đời.

Cũng trong cuộc chia ly này, Chúa Giêsu đã nói với những kẻ đi theo người những điều mà họ không ngờ tới. Đặc biệt trong giờ phút linh thiêng này, Ngài dặn dò họ: Các con hãy yêu thương nhau như chính Thầy đã yêu thương các con” (Ga 13, 34)... “Các con hãy rửa chân cho nhau, như chính Thầy đã rửa chân cho các con” (Ga 13, 14). 

Cũng trong bữa tiệc ly này chúng ta sẽ thấy được ai là môn đệ đích thật, ai kẻ phản bội Chúa. Đức Giêsu nói với Phêrô: Nội trong đêm nay con sẽ chối Thầy ba lần trước khi gà gáy” (Ga 13, 38). Rồi cũng cảnh cáo Giuđa như có lần Ngài đã từng cảnh cáo: Chính anh đó (là kẻ nạp Thầy)” (Ga 13, 21). Hãy nhìn xem, cả hai ông Phêrô và Giuđa đều phản lại Thầy, nhưng họ có hai cách phản ứng khác nhau, một kẻ vì thất vọng mà tìm cách treo cổ để kết thúc cuộc đời mình, còn người kia thì hối hận, khóc lóc xin Chúa thứ tha để làm lại cuộc đời.

Cuộc chia ly hôm nay rồi sẽ làm cho nhiều người phải phân tán, khi chủ chiên bị đánh tan tành thì là lúc đàn chiên bị tản mác, kẻ đông người tây lo chạy để thoát thân, thậm chí khi bị phát giác là môn đệ của Chúa Giêsu thì họ từ chối như mưa.

Đức Giêsu cùng với các môn đệ dùng bữa tiệc này đúng là một bữa tiệc rất khác thường, không giống như những gia đình Do thái khác. Không giống như những năm trước, ai nấy vui mừng ăn uống vừa để cảm tạ Thiên Chúa vừa hân hoan nhắc lại việc Chúa cho thoát khỏi ách chế độ tù đày. Bữa tiệc hôm nay là bữa tiệc cuối cùng của Chúa Giêsu và các môn đệ, nhưng không có nghĩa là từ nay những kẻ theo Ngài sẽ không được dùng tiệc vui này nữa mà sẽ được dùng bữa tiệc cao quý hơn, ý nghĩa hơn. Bữa tiệc mà chính hôm nay đây Ngài đã thiết lập. Trong bữa tiệc đó Ngài nói với các môn đệ: “Đây là mình Ta, các con hãy cầm lấy mà ăn, mà phân phát cho nhau... Đây là máu Ta, các con cũng hãy nhận lấy mà uống” (Mc 11, 22-24).

Thật vậy, từ nay những ai dự bàn tiệc này không còn phải uống thứ rượu nho nữa mà là uống chính máu ăn thịt Con Chiên đã được sát tế, đó chính Chúa Giêsu. Bữa tiệc này được thành lập nhằm mục đích cho những kẻ tin vào Con Chiên được đón nhận cách dồi dào, đây cũng là món quà mà chính Thiên Chúa đã dành cho Giáo hội chúng ta.

Mỗi khi Giáo hội cử hành Bí Tích Thánh Thể, là lúc tái hiện sự sát tế con chiên thật sự, chiên được sát tế cũng chính là Đức Kitô. Hết thảy những ai tham dự đều được thông phần vào cuộc dâng hiến của Đức Ki-tô, là dấu chỉ của sự liên đới mật thiết với Thiên Chúa, nhờ vậy họ được dẫn đến bàn tiệc Nước Trời. Đây là mầu nhiệm đức tin, xin cho mọi người chúng ta luôn có một đức tin vững vàng và lòng mến yêu tha thiết để cùng với anh chị em mình tham dự Bí Tích Thánh Thể thật sốt sắng và xứng đáng lãnh nhận ơn lành của Thiên Chúa.

Linh mục Antôn Phạm Trọng Quang, SVD


Bài đăng trên Vietcatholic

http://www.vietcatholic.net/News/Html/267250.htm

13.3.21

Thập Giá Yêu Thương, Thập Giá Cứu Độ

Thập Giá Yêu Thương, Thập Giá Cứu Độ

Suy Niệm Tin Mừng Chúa Nhật IV Mùa Chay – Năm B
(Ga 3,14-21)

 Truyền thuyết Hy Lạp kể rằng con trai của thần Thái Dương Appolo là Esculape, được coi là ông tổ của ngành y dược. Vì ông không chỉ có khả năng chữa bệnh mà còn có thể làm cho người chết sống lại.

Esculape chào đời khoảng năm 1260 trước Công nguyên. Theo truyền thuyết, mẹ ông qua đời khi ông còn trong bụng mẹ nên cha của ông phải mổ lấy con ra khỏi bụng bà. Vì không có mẹ nên cha ông bỏ ông lên núi, ông được dê cho bú và chó canh chừng nên đã sống sót. Lớn lên do bản tính thích quan sát nên ông nhận ra nhiều loài cây dược thảo có thể dùng để chữa bệnh hoặc cải tử hoàn sinh.



Chuyện cũng kể rằng, một hôm nọ, Esculape đang trên đường đi thăm bạn, ông nhìn thấy một con rắn đang tiến về phía mình, ông đưa gậy ra thì con rắn liền quấn quanh cái gậy. Như một cách phản ứng tự nhiên, ông ném cây gậy xuống đất với mục đích giết chết con rắn đi. Nhưng ngay lập tức ông lại thấy xuất hiện một con rắn khác bò tới. Miệng con rắn này ngậm một loài thảo dược dùng để cứu đồng loại của nó. Từ sau đó Esculape đã để tâm đến loài thảo dược này, rồi dùng nó để chữa bệnh cho mọi người.

Dựa vào truyền thuyết trên, ngành y đã lấy hình ảnh con rắn quấn quanh cái gậy để làm biểu tượng cho ngành. Với hy vọng tượng trưng cho sự khôn ngoan, khả năng chữa trị bệnh và kéo dài tuổi thọ của con người.



Câu chuyện về con rắn treo trên cây gậy cũng được đề cập đến trong Cựu Ước ở Sách Dân Số chương 21. Kinh Thánh kể rằng, khi dân Israel chịu cảnh nô lệ bên Ai cập, họ đã kêu cầu xin Chúa giải thoát họ khỏi cảnh tù đày. Thiên Chúa đã nghe tiếng kêu cầu than khóc của họ, nên Ngài đã chọn ông Môsê để dẫn đưa dân Ngài ra khỏi cảnh lưu đày và đưa họ về với vùng đất hứa.

Tuy nhiên trên đường đi họ đã trách móc nặng lời và chống lại Thiên Chúa nhiều lần. Vì thế, Thiên Chúa đã để cho loài rắn độc từ trong sa mạc tiến ra cắn chết nhiều người. Ông Môsê thấy thế liền kêu van Thiên Chúa tha thứ vì sự phản bội và vô ơn của dân, đồng thời xin Người ra tay cứu sống những người bị rắn cắn. Thiên Chúa nhận ra lòng thành và truyền cho ông Môsê đúc một con rắn đồng, treo lên cây gậy, để ai bị rắn cắn mà nhìn lên con rắn đó thì sẽ được cứu sống. Nghe lời Đức Chúa, ông Môsê đã làm như vậy, thế nên dân Israel đã được thoát chết.




 

Con rắn đồng chính vì vậy đã trở thành biểu tượng của lòng từ bi và hay tha thứ của Thiên Chúa. Nhất là trong Tin Mừng của Thánh Gioan chương 3, Chúa Giêsu cũng dùng hình ảnh con rắn đồng nơi sa mạc để so sánh với chính Ngài, Chúa nói: “Như ông Môsê đã dương con rắn đồng trong sa mạc thế nào, Con Người cũng phải được giương cao như vậy, để tất cả những ai tin vào Người, sẽ không bị hủy diệt, nhưng được sống đời đời” (3, 14-15).

Thật vậy, việc Đức Giêsu bị treo lên trên cây thập tự nói lên tình thương của Người dành cho nhân loại, Ngài dùng chính mạng sống của mình để cứu lấy phần rỗi nhân loại chúng ta. Vì sau khi con người phạm tội, phản nghịch cùng Thiên Chúa, Thiên Chúa đã không từ bỏ con người, nhưng sai Con Một của Người là Đức Giêsu Kitô xuống thế làm người để cứu chuộc. Như lời của thánh Gioan tuyên bố: “Thiên Chúa yêu thế gian đến nỗi đã ban Con Một, để ai tin vào Con của Người thì khỏi phải chết, nhưng được sống muôn đời” (Ga 3, 16).

 

Tình yêu đó thật lớn lao, tình yêu của người dám hy sinh mạng sống vì bạn hữu của mình, đó là tình yêu mà Đức Kitô đã dành cho loài người chúng ta (x. Ga 15,13). Thiên Chúa không cần gì khác ngoài việc khao khát chúng ta hướng lòng lên ngài. Còn chúng ta, để đáp lại tình yêu đó, không cần gì khác ngoài việc đặt hết niềm tin tưởng và cậy trông vào Chúa.

Cuộc đời chúng ta gặp đầy những đau khổ và bệnh tật, không quản bệnh về thể xác, tinh thần hay cả tâm hồn. Vì thế, ngoài việc tìm thầy chạy thuốc, chúng ta cũng biết chạy đến cùng Chúa Giêsu để xin Ngài cứu giúp. Thiên Chúa là Cha nhân từ, Ngài không bao giờ ngoảnh mặt làm ngơ nhưng sẽ ghé mắt thương đến chúng ta, như lời Ngài đã hứa: “Anh em cứ xin thì sẽ được, cứ tìm thì sẽ thấy, cứ gõ cửa thì sẽ mở ra cho” (Mt 7,7).

Xin cho chúng ta, khi nhìn lên thánh giá, luôn cảm nghiệm được lòng từ bi hay thương xót của Ngài. Xin cho chúng ta khi nhìn lên thập giá Chúa Kitô, luôn được củng cố niềm tin về quyền năng chữa lành của Chúa. Và xin cho chúng ta, khi nhìn lên Đức Kitô chịu đóng đinh, biết cải đổi tâm hồn, trở về với Chúa tình yêu để được ơn giải thoát và đón nhận ơn cứu độ mà Thiên Chúa đã dành sẵn cho mỗi người chúng ta.

 

Linh Mục Antôn Phạm Trọng Quang, SVD


6.3.21

Giuđa Có Được Lên Thiên Đàng Không?


 

Giuđa Có Được Lên Thiên Đàng Không?

Gần đây có một bạn trẻ hỏi tôi, “liệu ông Giuđa có được lên thiên đàng không, vì ông đã phạm tội tự tử? Nhưng nếu ông phải xuống hỏa ngục thì tội nghiệp cho ông quá, vì ông góp phần vào công cuộc cứu độ của Thiên Chúa.”

Trước hết, tôi cảm ơn bạn trẻ này đã tin tưởng và đặt cho tôi câu hỏi rất thú vị. Thực ra, đây là một vấn đề được bàn luận rất nhiều trong lĩnh vực tín lý và thần học của Giáo Hội Công Giáo nói riêng và các Giáo Hội Kitô Giáo nói chung. Dĩ nhiên đã có nhiều ý kiến khác nhau trong quá trình thảo luận về đề tài này. Vì thế, tôi rất cẩn trọng tìm hiểu và trong khả năng có thể tôi sẽ đưa ra cách trả lời ngắn gọn nhất và hợp lý nhất, hy vọng những thông tin sau đây sẽ giúp bạn và mọi người hiểu được và đón nhận cách dễ dàng hơn. Tôi sẽ sắp xếp thành một số câu hỏi cơ bản và trả lời xứng hợp như sau:

1.     Ông Giuđa là ai, ông có những phẩm giá và bổn phận nào?

Theo hiểu biết thông thường, ông Giuđa là một người được Chúa Giêsu chọn để trở thành môn đệ của Ngài. Sau khi được Chúa gọi, ông đã từ bỏ tất cả mà theo Ngài, gia nhập vào nhóm các tông đồ luôn sát cánh cùng Chúa trong đời sống công khai rao giảng của Ngài. Như vậy, trong suốt hơn 3 năm giảng dạy của Chúa, ông đã cùng Ngài và 11 anh em khác đi từ mọi miền của đất nước Israel để thực thi sứ mệnh rao giảng Tin Mừng. Ông đã được chứng kiến nhiều phép lạ Chúa làm, như cứu chữa người đau bệnh, làm cho người chết sống lại, bênh vực cho người nghèo, trừ quỷ và nhiều việc lành phúc đức khác. Hơn nữa, ngoài vấn đề truyền bá Tin Mừng cho muôn dân như các môn đệ khác, ông Giuđa cũng được Chúa Giê su và các môn đệ khác tín nhiệm, chọn làm người thủ quỹ trong nhóm của họ.

Dựa vào các thông tin trên, chúng ta có nhận định rằng ông là người tài giỏi và lanh lợi nên mới được giao cho trọng trách này. Tuy nhiên các môn đệ khác chỉ nhìn thấy mặt tốt của Giuđa, còn nhiều điều xấu nơi ông thì họ không để ý tới (có chăng Chúa biết rõ tính cách của ông nên nhắc nhở ông mấy lần), cho tới khi ông Giuđa phản bội Chúa họ mới vỡ lẽ nhìn ra con người thật của ông. Nói cách khác, trước khi phản bội Chúa Giêsu, ông Giuđa được coi như một hình mẫu con người hết sức hoàn hảo, thậm chí là giỏi giang hơn các môn đệ khác, nếu không các ông đã không chọn ông Giuđa giữ tiền và lo lắng đời sống cho họ.

2.     Ông Giuđa có sống đúng với chức vụ của mình không?

Không, ông không sống đúng với tư cách, địa vị và bổn phận của ông, mà phạm nhiều tội rất nghiêm trọng. Theo nghiên cứu của linh mục Giuse Đinh Quang Thịnh, Giuđa đã phạm những thứ tội như sau:

-        Tội bán Thầy: Ông bán Chúa với giá rất rẻ, chỉ bằng giá của một tên nô lệ $30 (x. Mt 26, 15). Đây là tội lớn nhất của ông Giuđa đối với Thầy mình, vì tội tham lam mà bán đứng Thầy mình với giá rẻ mạt như vậy.

-        Tội ăn cắp: Mặc dầu ông Giuđa được mọi người trong nhóm tín nhiệm, chọn ông làm thủ quỹ, nhưng ông thường lén lút lấy tiền để xài riêng, như trong Phúc Âm của thánh Gioan đã đề cập: “Y nói thế, không phải vì lo cho người nghèo, nhưng vì y là một tên ăn cắp: y giữ túi tiền và thường lấy cho mình những gì người ta bỏ vào quỹ chung (x. Ga 12, 6).

-        Tội cứng đầu, lỳ lợm và làm theo ý riêng: Trong giờ phút ly biệt, khi Chúa Giêsu và các môn đệ ăn bữa tiệc cuối cùng, Giuđa không nghe lời Thầy khuyên và cũng không màng đến các anh em đang rất buồn và bất mãn vì ý đồ kẻ muốn bán Thầy của ông (x. Ga 13, 18-21). Dù Chúa Giêsu đã cảnh báo: “Chính anh là người nộp thầy” (x. Mt 26, 22-25), mà anh vẫn không cẩn thận, không chịu tin tưởng và lắng nghe.

-        Tội lén lút làm chuyện xấu: Để thực hiện mưu đồ nộp thầy cho quân lính, Giuđa lén lút lánh mặt anh em, trong đêm tối đi ra ngoài để tìm cơ hội thuận tiện thực hiện mưu đồ này: “Hắn ưng thuận và tìm dịp tiện để nộp Đức Giêsu cho họ, lúc không có đám đông” (x. Lc 22, 6).

-        Tội lợi dụng danh nghĩa: Ông Giuđa lợi dụng danh nghĩa lấy cớ giúp người nghèo để lường gạt người khác. Bằng chứng là khi cô Maria, em gái cô Matta, đã dùng 300 quan tiền mua dầu thơm để rửa chân cho Thầy thì Giuđa khiển trách, mắng cô là phung phí, nên để số tiền ấy đưa cho người nghèo còn tốt hơn. Thực ra ông mượn lý do giúp người nghèo để che đậy tính gian tham của mình, vì hễ có ai góp tiền vào quỹ chung, ông lấy nó để dùng theo ý riêng của mình (x. Ga 12, 5-6).

-        Tội trốn không dự tiệc Thánh Thể: Trong khi 11 môn đệ ngồi lại ăn tiệc với Thầy mình thì ông Giuđa không hề màng tới. Khi mọi người đang quây quần bên Thầy mình trong “giờ phút Chúa thi ân, ơn cả nghĩa dày” (Tv 69/68), thì ông Giuđa lại bỏ đi gặp quân du dêu mà tìm cách bán Thầy mình cho họ.

-        Tội lừa dối Thầy mình: Ông lấy nụ hôn là dấu yêu thương để chỉ điểm cho kẻ ác bắt Chúa Giêsu, dù lúc ấy Thầy vẫn gọi ông là bạn (x. Mt 26, 50).

-        Tội thất vọng: Ông Giuđa sau khi phạm tội, thấy Thầy mình bị bắt và bị đánh đập dã man thì ông rất thất vọng, không còn tin vào lòng nhân từ hay thương xót và tha thứ của Chúa, nên thắt cổ tự tử (x. Mt 27, 3-5). Nói cách khác, sau khi phản bội Thầy, ông không hành động như cách ông Phêrô đã làm, là biết sám hối, khóc lóc, ăn năn và xin ơn tha thứ (x. Mt 26, 69-75), nhưng chọn cái chết tức tưởi để kết liễu đời mình.

Đây là tám thứ tội mà ông Giuđa phạm phải được ghi chép rõ ràng trong Kinh Thánh. Như thế, mặc dầu được chọn trở thành môn đệ của Chúa Giêsu, mặc dầu ông đồng ý nhập vào hàng ngũ đông đồ và nhận trách vụ quản lý trong nhóm các môn đệ, nhưng ông không sống và làm đúng với chức vụ và nhân phẩm của mình. Ông đã phạm nhiều thứ tội và những thứ tội đó dẫn đến một hậu quả hết sức đau buồn.

3.     Thiên Chúa có đẩy Giuđa vào sự chết không?

Không, Thiên Chúa không đẩy ông Giuđa vào sự chết, nhưng vì ông ngoan cố, không ăn năn hối tội, không tin vào tình thương của Chúa mà tự mình tìm đến cái chết.

Theo lời Kinh Thánh, “Thiên Chúa không làm ra cái chết, chẳng vui gì khi sinh mạng tiêu vong” (Kn 1, 13). Nhưng chính Giuđa đã tự tạo ra hỏa ngục cho mình, như bài viết đã đề cập, vì ông ta không chịu nghe lời Thầy mình cảnh báo, mà vẫn lỳ lợm sống giả dối, tham lam tiền của, và tự thắt cổ mà chết (x. Mt 27, 3-5).

Hơn nữa, Công Đồng Vatican II trong Hiến Chế Hội Thánh số 14 cũng nói: “Người đã thuộc về Chúa Kitô mà không kiên trì sống đức ái, thì xác nó thuộc về Hội Thánh, linh hồn nó ở ngoài Hội Thánh! Kẻ ấy chẳng những không được Chúa cứu độ mà còn bị xét xử nghiêm khắc hơn.

Riêng với Đức Giêsu, Ngài đã từng than phiền về Giuđa, kẻ nộp Ngài rằng: “Thà nó đừng sinh ra thì hơn” (x. Mt 26, 24). Đã có lần Ngài cầu nguyện cùng Đức Chúa Cha về Giuđa: “Lạy Cha, trong những kẻ Cha ban cho Con, Con không làm mất một người nào, trừ ra con người hư đốn” (x. Ga 17, 12).

Vậy, Kinh Thánh và Truyền thống đức tin của Giáo Hội khẳng định cho chúng ta rằng Thiên Chúa của chúng ta là Thiên Chúa của tình yêu và công chính. Thiên Chúa luôn yêu thương chúng ta, muốn chúng ta sống tốt lành, đồng thời Ngài sẵn sàng thưởng công Nước Thiên đàng cho chúng ta. Tuy nhiên, Thiên Chúa cũng rất công bằng, Ngài cũng sẽ phạt chúng ta nếu chúng ta không sống theo lời dạy của Ngài. Vì vậy, trong thư gửi tín hữu Do thái, thánh Phaolô nhắc nhở chúng ta: “Với lòng biết ơn đó, chúng ta hãy kính sợ mà phụng thờ Thiên Chúa cho đẹp lòng Người. Quả thật, Thiên Chúa chúng ta là một ngọn lửa thiêu” (Dt 12, 29). Bởi đó, không ai được lạm dụng tình thương của Thiên Chúa mà chìm mình trong tội lỗi, chỉ muốn đòi Chúa thể hiện tình yêu cứu mình, mà quên rằng “Chúa sẽ trả lại cho mỗi người cân xứng tùy theo công việc họ đã làm, hoặc lành hoặc dữ!” (x. 2 Cr 5, 10).

4.     cần ông Giuđa bán Chúa, để Chúa chịu chết ta mới được cứu độ không?

Không. Nếu có người nói ông Giuđa có công trạng trong việc giúp Thiên Chúa hoàn thành công cuộc cứu độ, theo các nhà thần học, đây là một suy nghĩ sai lầm. Vì Thiên Chúa, ngay từ đầu đã có kế hoạch cứu độ của Ngài, Ngài không cần đến hành vi tội lỗi và cái chết tức tưởi của ông Giuđa, nên không thể suy nghĩ rằng Giuđa góp công với Đức Giêsu trong việc thực hiện cứu độ loài người được. Việc Con Thiên Chúa phải chịu chết là tội ác của loài người, là sự ngoan cố không chịu lắng nghe lời rao giảng thống hối của Ngài, tệ đến mức họ phải quyết định phải loại bỏ Ngài đi ra khỏi đời sống của họ.

Giáo hội dạy ta rằng, sự đau khổ và cái chết của Chúa Giêsu là một mầu nhiệm. Vì thế, cốt lõi của vấn đề là Chúa muốn cứu độ nhân loại, cứu nhân loại khỏi sự hư nát do tội gây ra. Ngay khi ông bà Adong và Eva phạm tội, Thiên Chúa đã sai nhiều vị tiên tri đến rao giảng sự thống hối, để ai tin thì sẽ được cứu sống. Cuối cùng Ngài cũng sai chính Con Một của Ngài đến trần gian để dạy bảo và kêu gọi mọi người: Ai muốn Chúa cứu độ phải được tái sinh bởi nước và Thần Khí (x. Ga 3, 5). Đây là ơn ban cho hết thảy mọi dân mọi nước, ai nấy đếu có quyền đến để lãnh nhận “không phải trả đồng nào” (Is 55,1).

Quả thật, nhiều thần học gia khẳng định rằng, nếu nói đến sự cộng tác trong chương trình cứu độ của Thiên Chúa, thì người có công trong vai trò cứu độ này, chính là Đức Mẹ Maria. Đức Maria được Thiên Chúa đặc cách cho trở nên Đấng Vô Nhiễm Nguyên Tội và đầy ân sủng giữa muôn vàn người phụ nữ (x. Lc 1, 30). Vì Chúa có ý định chọn Mẹ làm Mẹ Thiên Chúa, nên Mẹ đã được trở nên tuyệt tác trong công trình tạo dựng của Ngài, ngay khi được thụ thai trong lòng bà Anna. Như thế  Đức Maria được ơn phúc lãnh nhận ơn cứu chuộc do Con Thiên Chúa thực hiện, chứ đâu phải chờ đến khi Chúa Giêsu từ cõi chết sống lại mới sinh ơn cứu độ. Nói cách khác, Đức Maria được Thiên Chúa cứu chuộc trước khi Con Thiên Chúa làm người. Nhờ có Mẹ mà toàn thể nhân loại chúng ta mới nhận biết Đức Giêsu và đón nhận ơn cứu độ do Ngài thực hiện. Cho nên không thể cho rằng ông Giuđa góp phần vào công cuộc cứu chuộc loài người của Thiên Chúa được.

5.     Vài nhận định thay lời kết

Thật không sai khi ta đưa ra nhận định, rằng Giuđa đã trải qua một cảm giác hết sức đau buồn và tuyệt vọng, ông đã khóc rất nhiều vì tội phản bội Thầy mình. Ông than rằng: “Tôi đã phạm tội nộp người vô tội, khiến Người phải chết oan” (Mt. 28, 4). Ông phản bội Chúa vì tham mấy đồng tiền lẻ, ông bán Chúa vì cái mộng làm quan nhưng giấc mộng đó đã không thành. Có thể ông bán Chúa vì mất niềm tin vào Ngài, khi những ngày lên Giêrusalem Chúa đã “bị dồn vào cái chết.” Sự thật hết sức phũ phàng, chẳng có cái gì để hy vọng nữa, ông trở nên giận dữ, thậm chí sợ hãi khi quân dữ đang kéo tới vào những lúc trời tối. Một cảnh tượng hết sức hãi hùng, vì thể, chối bỏ Chúa là cách tốt nhất để ông chạy thoát khỏi sự nguy hiểm sắp xảy ra. Ông bỏ chạy khỏi hiện trường để cứu lấy chính mình.

Giuđa đã rất hối hận và đã đi vào con đường cụt nơi đó phủ đầy bóng tối và chết chóc, ông cảm thấy lẻ loi, cô độc để rồi treo cổ trong khu vườn bỏ hoang. Vậy, có phải Giuđa xuống địa ngục bởi vì ông đã tự tử hay không? Rõ ràng, tự tử là tội, vì nó chống lại Thiên Chúa (Giáo Luật Giáo Hội Công Giáo, số 2281), nhưng đây không phải lý do tại sao Giuđa xuống địa ngục. Nhiều ý kiến cho rằng, ông Giuđa xuống địa ngục, bởi vì ông chưa bao giờ thật sự đứng về “phe” của Chúa, ông không dâng đời sống của chính mình cho Chúa Giêsu và quyết tâm theo Ngài cách cách trọn vẹn. Vì thế, như đã bàn luận ở trên, mặc dầu được Chúa gọi làm môn đệ nhưng ông vẫn âm thầm sống và hành động theo ý riêng của mình.

thể có người cho rằng Giuđa đã ăn năn về hành vi sai trái của ông. Nhưng Kinh Thánh chỉ thuật lại rằng: “Bấy giờ, Giu-đa, kẻ đã nộp Người, thấy Người bị kết án thì hối hận. Hắn đem ba mươi đồng bạc trả lại cho các thượng tế và kỳ mục mà nói: Tôi đã phạm tội nộp người vô tội, khiến Người phải chết oan” (Mt. 27, 3). Đúng, ông Giuđa đã rất đau buồn về tội lỗi của mình, nhưng ông không xin Chúa tha thứ như ông Phêrô đã từng làm nhưng lựa chọn cái chết, chết cách thê thảm. Đây là điểm khác biệt, là bài học cho mỗi người chúng ta: cả hai ông đều phạm tội chối Thầy, cả hai đều vô cùng hối hận, nhưng khi ông Phêrô biết đặt niềm tin vào Chúa, ông xin ơn tha thứ thì được Chúa thứ tha; còn Giuđa, vì mất hết niềm tin vào cuộc sống và vào chính Thiên Chúa tình thương, thì hậu quả dành cho ông là cái chết.

Đây là một bằng chứng cụ thể, rằng ông Giuđa chết mà chưa được tha tội. Nếu theo Giáo luật, thì ông không được lên Thiên đàng. Tuy nhiên, khi suy bàn về những người tự tử, Giáo Hội cũng dạy ta rằng cần tiếp tục hy vọng vào Chúa, vào tình thương và lòng từ bi hay tha thứ của Ngài. Cụ thể, giáo luật số 2283 viết: “Ta không được tuyệt vọng về phần rỗi đời đời của những người tự tử. Thiên Chúa có thể thu xếp cho họ có cơ hội sám hối để được ơn tha thứ, bằng những đường lối mà chỉ một mình Người biết.”

Bài học rất có giá trị trong câu chuyện này dành cho chúng ta, đó là cần tiếp tục quan tâm và giúp đỡ anh chị em xung quanh nhiều hơn để ai nấy đều có cuộc sống vui tươi và hạnh phúc. Nếu chúng ta biết có một ai đó chọn cách tự tử để kết liễu cuộc đời họ, thì chúng ta cũng nên tiếp tục cầu nguyện cho họ, cho gia đình và những người thân quen của họ. Vì giáo luật còn viết thêm: “Hội Thánh vẫn cầu nguyện cho những người hủy hoại mạng sống mình.”

Mùa Chay 2021

Linh mục Antôn Phạm Trọng Quang, SVD

(Hình sưu tầm)


Bài đăng trên Vietcatholic

http://www.vietcatholic.net/News/Html/266523.htm


Sứ Vụ Truyền Giáo: Lời Cam Kết Của Thành Viên Phong Trào Cursillo

  Sứ Vụ Truyền Giáo: Lời Cam Kết Của Thành Viên Phong Trào Cu rsillo   1.       Dẫn nhập Buổi chiều ngày cuối cùng khóa “khóa ba ngà...